TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 375/2023/DSPT Ngày: 25 - 8 - 2023 V/v “tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề” |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
Các Thẩm phán:
Bà Võ Bích Hải;
Bà Phan Thị Hồng Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 528/2022/TLPT- DS ngày 30 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp “ranh giới giữa các bất động sản liền kề”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 111/2022/DS – ST ngày 16 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ bị nguyên đơn ông Phan Văn C, bà Bùi Thị Túy N kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 116/2023/QĐPT-DS ngày 20 tháng 02 năm 2023, Quyết đinh hoãn phiên tòa số 129/2023/QĐ-PT ngày 20 tháng 3 năm 2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số 173/2023/TB-TA ngày 31 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- 1.1 Ông Phan Văn C, sinh năm: 1970; địa chỉ: Số C M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
- 1.2 Bà Bùi Thị Túy N1, sinh năm: 1979; địa chỉ: Số E V, khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1989; địa chỉ: Số B đường số D, Khu dân cư H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (có mặt)
- Bị đơn:
- 2.1 Bà Lê Hoa L, sinh năm: 1933; (vắng mặt)
- 2.2 Ông Bùi Tuấn K, sinh năm: 1965; (vắng mặt)
- 2.3 Bà Nguyễn Thị Mai L1, sinh năm: 1968; (vắng mặt)
- 2.4 Bà Bùi Thị Trúc L2, sinh năm: 1989; (vắng mặt)
- 2.5 Bà Bùi Thị Trúc T, sinh năm: 1991; (vắng mặt)
- 2.6 Ông Bùi Nguyễn Tuấn A, sinh năm: 1992; (có mặt)
Cùng địa chỉ: Số A tỉnh lộ 918, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
- Người đại diện theo ủy quyền của các bị đơn: Ông Bùi Nguyễn Tuấn A, sinh năm: 1992; địa chỉ: Số A tỉnh lộ 918, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Bùi Tuấn K là ông Phan Tấn L3 là Luật sư Văn phòng L4 thuộc Đoàn luật sư thành phố C; địa chỉ: Số C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan:
- 3.1 Ngân hàng TMCP A1.
Địa chỉ: Tầng A, 2, 3 Tòa nhà G, số C H, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ liên hệ: Số B Quốc lộ A, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Đào Văn S, sinh năm 1988; chức vụ: Chuyên viên cao cấp xử lý nợ Ngân hàng TMCP A1. (vắng mặt)
Ông Trần Trọng N2, sinh năm: 1983; chức vụ: Chuyên viên – Ban xử lý nợ Ngân hàng TMCP A1. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số A P, phường B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
- 3.2 Bà Nguyễn Kim T1, sinh năm: 1980; địa chỉ: Số A N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà T1 là bà Phạm Thị Trúc P, sinh năm: 1983; địa chỉ: Số B, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
- 3.2 Bà Nguyễn Trần Ngọc T2, sinh năm: 1991; địa chỉ: Số A, khu phố G, phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà T2 là ông Nguyễn Đăng K1, sinh năm: 1987; địa chỉ: Khu V T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; địa chỉ liên lạc: Số A M, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
- Người kháng cáo: Ông Phan Văn C và bà Bùi Thị Túy N là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung, nguyên đơn trình bày: Ông Phan Văn C và bà Bùi Thị Túy N đang quản lý, sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1900, tờ bản đồ số 38, diện tích 295m², tọa lạc tại đường V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. Nguồn gốc đất là nhận chuyển nhượng từ hộ ông Bùi Tuấn K vào năm 2018, khi nhận chuyển nhượng có đo đạc, cắm trụ ranh đầy đủ. Trong quá trình sử dụng đất, hộ ông Bùi Tuấn K là chủ sử dụng đất thửa đất số 215 nằm liền kề với phần diện tích đất của ông bà đã làm gãy đổ trụ ranh, lấn sang phần đất của ông bà kích thước chiều ngang khoảng 0,749m, chiều dài khoảng 13m, diện tích khoảng 9,7m². Nay ông Phan Văn C và bà Bùi Thị Túy N khởi kiện yêu cầu hộ ông Bùi Tuấn K gồm bà Lê Hoa L, ông Bùi Tuấn K, bà Nguyễn Thị Mai L1, bà Bùi Thị Trúc L2, bà Bùi Thị Trúc T và ông Bùi Nguyễn Tuấn A trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm.
Vào ngày 30/6/2021, ông Phan Văn C – bà Bùi Thị Túy N có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu hộ ông Bùi Tuấn K gồm bà Lê Hoa L, ông Bùi Tuấn K, bà Nguyễn Thị Mai L1, bà Bùi Thị Trúc L2, bà Bùi Thị Trúc T và ông Bùi Nguyễn Tuấn A bồi thường số tiền 300.000.000 đồng. Lý do trước khi xảy ra sự việc tranh chấp với hộ ông Bùi Tuấn K thì ông Phan Văn C – bà Bùi Thị Túy N đã ký hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1900 nêu trên cho bà Nguyễn Kim T1 nhưng do phát sinh tranh chấp nên không ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được và ông bà đã bồi thường tiền cọc cho bên mua với số tiền 300.000.000 đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, ông Bùi Nguyễn Tuấn A trình bày: Hộ gia đình ông Bùi Tuấn K đang quản lý sử dụng thửa đất số 215 nằm liền kề với thửa đất số 1900 của ông Phan Văn C – bà Bùi Thị Túy N (thửa 1900 được tách ra từ thửa đất số 215). Khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào năm 2018 thì các bên có đo đạc thực tế và cắm trụ ranh đầy đủ. Phía hộ ông Bùi Tuấn K xây tường rào trên phần diện tích đất của gia đình, không có lấn sang phần đất của ông Phan Văn C – bà Bùi Thị Túy N nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn C – bà Bùi Thị Túy N. Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung hộ ông Bùi Tuấn K không đồng ý vì không có gây thiệt hại cho ông Phan Văn C và bà Bùi Thị Túy N.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan trình bày:
- Đại diện Ngân hàng TMCP A1 Chi nhánh C1 – P1 ông Lâm Thành Đ trình bày: Ông Phan Văn C – bà Bùi Thị Túy N có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 1900, tờ bản đồ số 38, diện tích 295m², tọa lạc tại đường V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ cho Ngân hàng TMCP A1 – P1 để vay một khoản tiền đến nay chưa hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Quá trình nhận thế chấp phía Ngân hàng có đi thẩm định, đo đạc và đăng ký thế chấp đầy đủ nên yêu cầu giữ nguyên hiện trạng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Người đại diện ủy quyền của bà Nguyễn Kim T1, bà Phạm Thị Trúc P trình bày: Vào ngày 19/10/2019, bà Nguyễn Kim T1 có đặt cọc cho ông Phan Văn C – bà Bùi Thị Túy N số tiền 300.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa 1900, tờ bản đồ số 38, diện tích 295m², tọa lạc tại đường V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. Nhưng do phát sinh tranh chấp, không thực hiện được hợp đồng chuyển nhượng nên ông Phan Văn C và bà Bùi Thị Túy N đã trả lại tiền cọc 300.000.000 đồng và trả phạt cọc số tiền 300.000.000 đồng. Bà Nguyễn Kim T1 không có yêu cầu trong vụ án.
- Người đại diện ủy quyền của bà Nguyễn Trần Ngọc T2, ông Nguyễn Đăng K1 trình bày: Ông thống nhất với Bản trích đo địa chính số: 113/TTKTTNMT ngày 28/9/2022 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C và thống nhất ranh đất liền kề giữa bà Nguyễn Trần Ngọc T2 với ông Phan Văn C – bà Bùi Thị Túy N tại vị trí B diện tích 10,9m² không phải của bà Nguyễn Trần Ngọc T2.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 111/2022/DS – ST ngày 16 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ đã tuyên:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn C và bà Bùi Thị Túy N đối với các bị đơn bà Lê Hoa L, ông Bùi Tuấn K, bà Nguyễn Thị Mai L1, bà Bùi Thị Trúc L2, bà Bùi Thị Trúc T và ông Bùi Nguyễn Tuấn A về việc yêu cầu các bị đơn trả lại phần đất ranh giới liền kề với diện tích 9,4m² và bồi thường số tiền 300.000.000 đồng.
Về chi phí đo đạc, định giá: Nguyên đơn ông Phan Văn C và bà Bùi Thị Túy N phải chịu chi phí đo đạc, định giá. Nguyên đơn đã nộp xong chi phí đo đạc, định giá theo yêu cầu của nguyên đơn và có nghĩa vụ trả lại cho bị đơn số tiền 2.880.000 đồng (hai triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) chi phí đo đạc, định giá.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Phan Văn C và bà Bùi Thị Túy N phải chịu 15.300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 004821 ngày 02/11/2020 và 7.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 005299 ngày 29/9/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ; ông Phan Văn C và bà Bùi Thị Túy N còn phải nộp 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) án phí.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Bản án nêu trên đã bị phía nguyên đơn ông Phan Văn C và bà Bùi Thị Túy N kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện không rút đơn kiện, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, cụ thể như sau:
Nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu kháng cáo về việc buộc bị đơn bồi thường số tiền 300.000.000 đồng;
Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất: Nguyên đơn có quyền sử dụng đối với phần đất vị trí B, diện tích 10.9m² theo bản trích đo địa chính số 113 ngày 28/9/2022 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm:
* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Trong giai đoạn phúc thẩm Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về Thụ lý xét xử phúc thẩm (Điều 285); Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm (Điều 286); Cung cấp tài liệu, chứng cứ (Điều 287); Triệu tập những người tham gia tố tụng (Điều 294).
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng theo thẩm quyền được quy định tại Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Thư ký phiên tòa đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn đúng theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
* Về việc giải quyết vụ án:
- Về hình thức: Nguyên đơn kháng cáo trong hạn luật định, có đóng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem là hợp lệ.
- Về nội dung vụ án nhận thấy: Căn cứ vào những chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu kháng cáo về việc buộc bị đơn bồi thường số tiền 300.000.000 đồng. Xét thấy, việc rút yêu cầu kháng cáo này của phía đại diện nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không trái luật. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 289 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo này của nguyên đơn.
[2] Ngoài ra, các đương sự thống nhất thỏa thuận: Phần đất vị trí B, diện tích 10.9m² theo bản trích đo địa chính số 113 ngày 28/9/2022 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn. Xét thấy, vị trí đất nêu trên (vị trí B) là phần đất nằm giữa quyền sử dụng đất của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà T2). Tại đơn xin xét xử vắng mặt, đại diện ủy quyền của người liên quan bà T2 là ông Nguyễn Đăng K1 thống nhất theo bản trích đo địa chính số 113 ngày 28/9/2022 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C và xác định vị trí B, diện tích 10.9m² thuộc quyền sử dụng của thửa 1900 của nguyên đơn. Đồng thời, phía bị đơn cũng xác định phần đất ở vị trí B nơi tiếp giáp với đất của bị đơn sẽ giao cho nguyên đơn toàn quyền sử dụng. Sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và không trái luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ có cơ sở nên chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Phan Văn C, bà Bùi Thị Túy N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm yêu cầu kháng cáo của ông Phan Văn C và bà Bùi Thị Túy N về việc buộc bị đơn bồi thường thiệt hại 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).
- Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể như sau: Ông Phan Văn C, bà Bùi Thị Túy N được quyền sử dụng phần đất tại vị trí B, diện tích 10.9m² theo bản trích đo địa chính số 113 ngày 28/9/2022 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
- Về chi phí tố tụng ở cấp sơ thẩm: Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định và định giá tài sản: Nguyên đơn ông Phan Văn C và bà Bùi Thị Túy N phải chịu chi phí này. Nguyên đơn đã nộp xong chi phí đo đạc, định giá theo yêu cầu của nguyên đơn và có nghĩa vụ trả lại cho bị đơn số tiền 2.880.000 đồng (hai triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) chi phí đo đạc, định giá.
- Về án phí dân sự:
- 4.1 Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Phan Văn C và bà Bùi Thị Túy N phải chịu 15.300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 004821 ngày 02/11/2020 và 7.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 005299 ngày 29/9/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ; ông Phan Văn C và bà Bùi Thị Túy N còn phải nộp 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) án phí.
- 4.2 Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Phan Văn C, bà Bùi Thị Túy N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ông C, bà N được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002849 ngày 23/11/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ thành án phí.
Ông Phan Văn C, bà Bùi Thị Túy N được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quy định.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Loan |
Bản án số 375/2023/DSPT ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề
- Số bản án: 375/2023/DSPT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chiến - Liêng - T/c ranh giới giữa các bất động sản liền kề
