|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 375/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23/9/2024.
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoàn
Bà Nguyễn Thị Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 309/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 451/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 307/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ánh N, sinh năm 1990,
Nơi ĐKHKTT: Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở hiện nay: Khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989,
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Vương quốc A.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị N1, sinh năm 1966, địa chỉ: Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Chị N, anh T và bà N1 đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai chị Trần Thị Ánh N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương vào ngày 04/4/2009 và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau ngày cưới, chị chuyển về chung sống cùng gia đình anh T. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì vợ chồng cùng sang Liên bang N2 làm việc và đến năm 2013 thì chị về nước. Năm 2015, anh T về Việt Nam làm lại hộ chiếu và sau đó quay lại Liên bang N làm việc đến nay chưa về nước lần nào. Từ thời điểm này vợ chồng chị bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng xa cách, tình cảm mờ nhạt. Năm 2018, anh chị đã nảy sinh mâu thuẫn trầm trọng do anh T không tập trung làm ăn, không gửi kinh tế về cho chị để trang trải cuộc sống. Năm 2018, chị đã phải sang Đài Loan lao động làm kinh tế gửi về Việt Nam để trang trải cuộc sống đến năm 2023 thì chị về nước và không đi nữa. Đến nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn chị đã trao đổi với mẹ chồng và dọn về nhà bố mẹ đẻ để ở. Chị không biết địa chỉ cụ thể của anh T ở nước ngoài mà chỉ biết hiện nay anh T đã sang Vương quốc Anh làm việc. Do tình cảm vợ chồng không thể níu kéo, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
- Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Nguyễn Ngọc N3, sinh ngày 01/5/2009 và Nguyễn Thảo V, sinh ngày 02/5/2011. Hiện nay 2 cháu vẫn đang ở với gia đình anh T. Chị tôn trọng nguyện vọng của các cháu, nếu 2 cháu ở với chị, chị sẽ nuôi dưỡng, nếu 2 cháu có nguyện vọng ở với bố, chị đồng ý để anh T được nuôi dưỡng cả 2 cháu. Do anh T đang ở nước ngoài, mẹ đẻ anh T là Đặng Thị N1 sẽ chăm sóc 2 cháu thay anh T trong thời gian anh T chưa về Việt Nam, chị nhất trí. Việc cấp dưỡng anh chị tự thỏa thuận với nhau.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị N1 (mẹ đẻ anh Nguyễn Văn T) trình bày: Về thời điểm kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng anh T và chị N như chị N trình bày là đúng. Anh T hiện đang sinh sống và làm việc tại Vương quốc Anh, anh T vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình bà. Sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án, bà đã thông báo cho anh T được biết về việc chị N có đơn xin ly hôn và giải quyết việc nuôi dưỡng con chung, quan điểm của anh T là nhất trí ly hôn. Về con chung, anh T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 2 con chung Nguyễn Ngọc N3, sinh ngày 01/5/2009 và Nguyễn Thảo V, sinh ngày 02/5/2011 cho đến khi trưởng thành, tự nguyện không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng anh T. Anh T nhờ bà chăm sóc các con chung cho đến khi anh T về nước, bà nhất trí. Về tài sản chung, nợ chung: Anh T xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Các văn bản tố tụng mà Tòa án giao cho anh T, bà sẽ có có trách nhiệm thông báo và giao lại cho anh T.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị N có quan điểm xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn anh T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà N1 có quan điểm xin vắng mặt.
* Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Trần Thị Ánh N được ly hôn anh Nguyễn Văn T; Giao cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc N3, sinh ngày 01/5/2009 và Nguyễn Thảo V, sinh ngày 02/5/2011 cho đến khi con chung trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm giao cháu N3, cháu V cho bà Đặng Thị N1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh T không có mặt tại Việt Nam; Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Chị N phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Chị Trần Thị Ánh N có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị với anh Nguyễn Văn T. Anh T hiện đang sinh sống và lao động tại Vương quốc Anh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N không cung cấp được địa chỉ của chị T tại V A. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị N và gia đình anh T cung cấp địa chỉ nhưng chị N không cung cấp được. Thông qua gia đình xác định anh T có liên lạc về gia đình, gia đình anh T không cung cấp được địa chỉ của anh T tại V A. Do vậy, áp dụng Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Tại phiên tòa chị N, bà N1 đều có quan điểm xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị N, anh T và bà N1.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ánh N và anh Nguyễn Văn T được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương vào ngày 04/4/2009 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì cùng nhau sang Liên bang N làm việc và đến năm 2013 chị N về Việt Nam sinh sống, còn anh T ở lại Liên bang N2 làm việc đến 2015 anh T về thăm gia đình một thời gian ngắn rồi quay lại Liên bang N2 làm việc cho đến nay chưa về nước. Vợ chồng bắt đầu không chung sống cùng với nhau từ thời điểm này và không còn quan tâm đến nhau tròn cuộc sống. Nay chị N có đơn xin ly hôn, thông qua gia đình anh T có quan điểm nhất trí ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị N, anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị N được ly hôn anh T là phù hợp.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị N và anh T có 02 con chung là Nguyễn Ngọc N3, sinh ngày 01/5/2009 và Nguyễn Thảo V, sinh ngày 02/5/2011. Hiện nay, hai cháu đều đang ở cùng với bà Đặng Thị N1 là mẹ đẻ của anh T. Ly hôn chị N có quan điểm tôn trọng nguyện vọng của con chung, anh T có quan điểm được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.
Xét thấy, các cháu N3, cháu V đang có cuộc sống ổn định cùng với mẹ của anh T là bà Đặng Thị N1 và đều có nguyện vọng được ở cùng bố. Để ổn định cuộc sống của con chung cần chấp nhận quan điểm của anh T giao 02 con chung Nguyễn Ngọc N3, sinh ngày 01/5/2009 và Nguyễn Thảo V, sinh ngày 02/5/2011 cho anh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm giao cháu N3, cháu V cho bà Đặng Thị N1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh T không có mặt tại Việt Nam. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.
Chị Trần Thị Ánh N được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự đều xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.
[3]. Về án phí: Chị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Ánh N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn T tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc N3, sinh ngày 01/5/2009 và Nguyễn Thảo V, sinh ngày 02/5/2011 thời gian từ tháng 9/2024 cho đến khi con chung trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Tạm giao cháu Nguyễn Ngọc N3, cháu Nguyễn Thảo V cho bà Đặng Thị N1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh T không ở Việt Nam.
Chị Trần Thị Ánh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Trần Thị Ánh N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000783 ngày 07/6/2024 (chị N đã nộp đủ án phí).
4. Về quyền kháng cáo: Chị N, bà N1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
Bản án số 375/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 375/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Ánh N xin ly hôn Nguyễn Văn T và tranh chấp việc nuôi con chung
