Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 375/2024/HS-ST

Ngày: 28/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quản Văn Tiến;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thư

Ông Lê Bá Lung

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 364/2024/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 373/2024/QĐXX-HS ngày 13/11/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trung K, sinh năm 1989; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Khu phố E, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn L (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Thúy N; Có vợ là Nguyễn Thu H và có 01 con sinh năm 2014;Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 04/12/2023 bị Công an xã M xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 14/01/2024 bị Công an xã M xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; Nhân thân: Ngày 15/7/2015, Tòa án huyện T, tỉnh Phú Thọ xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc, ngày 12/5/2020 Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 26/4/2022 bị Công an xã M xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; D chỉ bản số 696 ngày 14/8/2024 do Công an quận Đ lập; Tạm giữ, tạm giam: Đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 02/8/2024 đến ngày 01/10/2024 được áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

- Anh Nguyễn Tiến H1, sinh năm 2002; Trú tại số A tổ H Đ, phường K, quận H, Hà Nội; Vắng mặt.

- Anh Lê Đức H2, sinh năm: 1996; Trú tại: P704 nhà N, phường L, quận Đ, Hà Nội; Vắng mặt.

- Anh Hoàng Long N1, sinh năm: 2003; Trú tại: số E ngõ A P, phường P, quận B, Hà Nội. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1977; Trú tại tổ G phường M, quận H, Hà Nội. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Đình T1, sinh năm 1975; Trú tại số B ngõ E đường M, phường M, quận N, Hà Nội. Vắng mặt.

- Anh Phạm Ngọc Đ, sinh năm 1981; Trú tại S, Tổ dân phố số A, phường T, quận N, Hà Nội Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Trung K bị Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/7/2024, Nguyễn Trung K đứng ở khu vực Cầu T, phường Y, quận H, Hà Nội bắt xe ôm của anh Nguyễn Tiến H1 đi đến địa chỉ A phố H, phường Ô, quận Đ, Hà Nội với giá thỏa thuận đi và về là 80.000 đồng. Khi đến địa chỉ số A H, K rủ anh H1 vào uống bia. Cả hai ăn uống đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày K nhờ anh H1 đi mua hộ bao thuốc lá tại cửa hàng T3 bên đường. Lợi dụng lúc anh H1 đi sang đường không để ý, K liền lấy chiếc chìa khóa xe máy của anh H1 đang để trên bàn rồi đi ra vị trí dựng chiếc xe máy Honda Wave màu trắng biển kiểm soát 18D1-742.13 của anh H1 rồi điều khiển xe rời đi. Sau đó, K kiểm tra thì phát hiện trong chiếc túi treo trên xe máy bên trong có giấy đăng ký xe máy và căn cước công dân (CCCD) mang tên Nguyễn Tiến H1. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H1 điều khiển chiếc xe máy đi đến cửa hàng cầm đồ tại số H đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội, sử dụng đăng ký xe và CCCD của anh H1 để bán chiếc xe máy cho anh Nguyễn Văn T với giá 9.000.000 đồng (có giấy tờ mua bán xe).

Ngày 25/7/2024, anh T đã bán chiếc xe máy Honda Wave màu trắng biển kiểm soát 18D1-742.13 cho anh Nguyễn Đình T1 với giá 12.400.000 đồng. Cùng ngày, anh T1 bán lại chiếc xe máy cho anh Phạm Ngọc Đ với giá 12.700.000 đồng. Sau khi mua xe, con trai anh Đ là Phạm Văn Đ1 đã đăng bán chiếc xe máy trên ứng dụng Tiktok. Qua mạng xã hội, ngày 28/7/2024, anh Nguyễn Tiến H1 phát hiện chiếc xe máy của mình đang được giao bán nên đã đến Công an phường Ô trình báo sự việc.

Ngày 02/8/2024, Nguyễn Trung K đã đến Công an phường Ô làm việc và xin đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Trung K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đấu tranh mở rộng, K khai nhận đã thực hiện 02 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn quận Đ và Cầu G. Cụ thể:

Vụ thứ nhất:

Vào khoảng 14 giờ ngày 30/6/2024, khi Nguyễn Trung K lang thang tại khu vực phố N thì thấy anh Lê Đức H2 (người quen của K) đang điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng - đen - bạc biển kiểm soát 29E2-571.71 nên K đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy của anh H2. Sau đó, K gọi anh H2 lại và rủ anh H2 ngồi uống nước rồi nhờ anh H2 chở ra số C phố H, phường Ô, quận Đ, Hà Nội để gặp bạn. Khi đi đến số B phố M, K rủ anh H2 vào quán uống bia. Cả hai ngồi ăn uống được khoảng 1 tiếng thì K hỏi mượn chiếc xe máy của anh H2 nói để đi lấy quần áo nhưng anh H2 không đồng ý nên đã điều khiển xe máy chở K ra số C H. Khi đến ngõ C phố H thì K bảo anh H2 ngồi quán nước và cho K mượn xe máy vào gặp bạn, tin tưởng K nên anh H2 đã cho K mượn chiếc xe máy. Ngay sau đó, K điều khiển chiếc xe máy lấy được của anh H2 đi ra khu vực cây xăng H, phường Ô, quận Đ, Hà Nội bán cho một người đàn ông không quen biết với giá 2.000.000 đồng. Số tiền này K đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Hiện cơ quan điều tra chưa thu hồi được chiếc xe máy Honda Wave màu trắng đen bạc biển kiểm soát 29E2-571.71.

Vụ thứ hai:

Ngày 20/7/2024, sau khi chơi điện tử tại quán D1 trên phố Đ, quận C, Hà Nội, K nảy sinh ý định chiếm đoạt xe máy của anh Hoàng Long N1 là nhân viên trông quán internet nên đã bảo anh N1 ngày hôm sau trở K đến khu vực phố T gặp bạn và sẽ trả tiền công. Đến khoảng 15 giờ ngày 21/7/2024, anh N1 điều khiển xe máy Honda Winner X màu bạc đỏ đen, biển kiểm soát 29L1-764.54 chở K đi đến phố T thì K rủ anh N1 vào uống bia để đợi bạn K. Trong quá trình ngồi ăn, K thấy trong túi đeo chéo của anh N1 có để đăng ký xe máy nên lợi dụng lúc anh N1 đi vệ sinh, K đã lấy chiếc đăng ký xe máy của anh N1. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, K rủ anh N1 đi mua kem. K nói muốn đi thử xe máy của anh N1 nên anh N1 đồng ý cho K điều khiển xe máy chở anh N1 đến cửa hàng T3 số A phố M, phường M, quận C, Hà Nội. Khi đến cửa hàng T3 anh N1 xuống xe vào mua kem, K nói với anh N1 cho K đi thử xe máy một vòng thì anh N1 đồng ý. Ngay sau đó, K điều khiển chiếc xe máy đi đến cửa hàng cầm đồ tại H đường L và bán chiếc xe máy cho anh Nguyễn Văn T với giá 15.000.000 đồng nhưng K lấy trước số tiền 11.000.000 đồng và mấy hôm sau sẽ đến lấy tiếp số tiền 4.000.000 đồng (có giấy tờ mua bán). Khi bán xe, K vẫn giả danh là anh Nguyễn Tiến H1. Số tiền này K đã sử dụng tiêu sài cá nhân hết. Đến ngày 02/8/2024, K đến cửa hàng để lấy nốt số tiền bán xe 4.000.000 đồng thì bị Cơ quan Công an bắt đưa về trụ sở để làm việc.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 195/KL-HĐĐGTS ngày 17/9/2024 của hội đồng định giá tài sản – UBND quận Đ, kết luận:

  • - Chiếc xe máy Honda wave màu trắng – đen – bạc biển kiểm soát: 18D1-74213, đã qua sử dụng, đã thu hồi định giá 9.750.000 đồng.
  • - Chiếc xe máy Honda Winner X màu bạc - đỏ - đen, biển kiểm soát 29L1-764.54 đã qua sử dụng, đã thu hồi định giá: 17.750.000 đồng.
  • - Chiếc xe máy Honda Wave màu trắng – đen – bạc, biển kiểm soát 29E2-571.71 đã qua sử dụng chưa thu hồi, định giá 12.827.800 đồng.

Đối với anh Nguyễn Văn T, Phạm Ngọc Đ và Trịnh Đình T2, tại cơ quan điều tra đều khai nhận quá trình mua bán xe không biết nguồn gốc xe máy là xe do Nguyễn Trung K phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Đối với người đàn ông mua chiếc xe máy Honda Wave biển kiểm soát 29E2-571.71 của Nguyễn Trung K, do K không biết nhân thân lai lịch nên cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ.

Tang vật vụ án:

Cơ quan điều tra thu giữ được những đồ vật, tài sản gồm:

  • * Thu giữ của anh Phạm Ngọc Đ:
    • - 01 chiếc xe máy Honda wave màu trắng biển số 18D1-74213;
    • - 01 đăng ký xe mang tên Nguyễn Tiến H1.
  • * Thu giữ của Nguyễn Văn T:
    • - 01 chiếc xe máy Honda Winner X màu bạc đỏ đen, biển kiểm soát 29L1-764.54;
    • - 01 đăng ký xe Honda Winer X, biển kiểm soát 29L1-764.54 mang tên Mạc Văn N2.
    • - 02 giấy bán xe máy.

Xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra đã trao trả cho anh Nguyễn Tiến H1 01 chiếc xe máy Honda wave màu trắng biển số 18D1-74213 cùng đăng ký xe; Trao trả cho anh Hoàng Long N1 01 chiếc xe máy Honda Winner X màu bạc đỏ đen, biển kiểm soát 29L1-764.54 cùng đăng ký xe máy.

Trách nhiệm dân sự:

Hiện anh Nguyễn Tiến H1 và anh Hoàng Long N1 đã được nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự.

Anh Lê Đức H2 yêu cầu được thu hồi trả lại xe.

Anh Nguyễn Văn T yêu cầu Nguyễn Trung K phải bồi thường số tiền 20.000.000 đồng là tiền đã trả mua xe máy cho K.

Tại bản Cáo trạng số 327/CT-VKSĐĐ ngày 11/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Trung K về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà thay đổi quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Trung K về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 sang tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự và hành vi gian dối bị cáo thực hiện ngày 12/7/2024 chiếm đoạt chiếc xe của anh Nguyễn Tiến H1 là tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo từ 26 tháng tù đến 32 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Buộc bị cáo trả anh Nguyễn Văn T 20.000.000 đồng; Buộc bị cáo trả anh Lê Đức H2 12.827.000 đồng trị giá chiếc xe máy Nguyễn Trung K chiếm đoạt.

Bị cáo không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào nội dung vụ án, các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự và không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định khởi tố, truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được coi là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình đã thực hiện như nội dung bản Cáo trạng nêu; Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng vụ án, kết luận định giá tài sản, phù hợp về thời gian, địa điểm, diễn biến của vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên đủ cơ sở kết luận: Do không có việc làm, cần tiền tiêu sài nên K nảy sinh ý định bắt xe ôm dọc đường, sau đó rủ ăn uống và tạo lý do để chiếm đoạt tài sản là xe máy của chủ tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân (BL 34, 35). Từ ngày 30/6/2024 đến ngày 20/7/2024 N3 Trung kiên đã thực hiệc 03 vụ chiếm đoạt tài sản của người khác rồi bán lấy tiền. Cụ thể:

Ngày 30/6/2024, tại số C phố H, phường Ô, quận Đ, Hà Nội, lợi dụng sự tin tưởng của anh Lê Đức H2, Nguyễn Trung K đã mượn chiếc xe máy Honda Wave màu trắng – đen – bạc, biển kiểm soát 29E2-571.71 đã trị giá 12.827.800 đồng của anh H2 rồi sau đó mang đi bán cho một người đàn ông không quen biết được số tiền 2.000.000 đồng tại khu vực cây xăng H3, phường Ô, quận Đ, Hà Nội.

Ngày 12/7/2024, 160 phố H, phường Ô, quận Đ, Hà Nội lợi dụng sự tin tưởng của anh Nguyễn Tiến H1 khi đi mua thuốc lá cho K và để lại chìa khóa xe máy và xe máy, Nguyễn Trung K đã chiếm đoạt chiếc xe máy Honda Wave màu trắng biển kiểm soát 18D1-742.13 trị giá 9.750.000 đồng của anh H1 rồi bán cho anh Nguyễn Văn T với giá 9.000.000 đồng.

Ngày 20/7/2024, tại số A phố M, phường M, quận C, Hà Nội, lợi dụng sự tin tưởng của của anh Hoàng Long N1, K đã mượn chiếc xe máy Honda Winner X màu bạc - đỏ - đen, biển kiểm soát 29L1-764.54 trị giá 17.750.000 đồng của anh N1, sau đó mang đi bán được số tiền 11.000.000 đồng cho anh Nguyễn Văn T.

Vì vậy, với ba hành vi trên, Nguyễn Trung K đã phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát thay đổi tội danh Trộm cắp tài sản của hành vi bị cáo thực hiện ngày 12/7/2024 sang tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là có căn cứ pháp luật cần được chấp nhận.

Xét tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự, trị an địa phương. Trong cả 03 lần tài sản bị cáo chiếm đoạt đều trên 2.000.000 đồng nên bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng Phạm tội từ hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, xét bị cáo đã đầu thú; Có thái độ thành khẩn khai báo nên cần giảm cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với anh Nguyễn Tiến H1 và anh Hoàng Long N1 đã được nhận lại tài sản, nay không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Đối với anh Phạm Ngọc Đ đã mua xe lại của anh Nguyễn Đình T1 với số tiền 12.700.000 đồng. Tuy nhiên anh Đ không yêu cầu được bồi thường (BL95,96) nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Đối với anh Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000 đồng đã mua xe của bị cáo. Xét yêu cầu của anh T là chính đáng, phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.

Đối với anh Nguyễn Đình T1 là người trực tiếp mua lại xe của anh Nguyễn Văn T và có yêu cầu được bồi thường (BL94), xét xe hai bên giao dịch là xe có nguồn gốc từ bị cáo phạm tội mà có nên việc giao dịch này là vô hiệu. Vì vậy cần buộc anh T trả lại số tiền 12.400.000 đồng cho anh T1.

Đối với anh Lê Đức H2 yêu cầu được nhận lại xe Honda Wave màu trắng – đen – bạc, biển kiểm soát 29E2-571.71, xét chiếc xe trên bị cáo sau khi chiếm đoạt đã bán cho người không quen biết, Cơ quan điều tra chưa tìm được xe. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho bị hại cần buộc bị cáo bồi thường cho anh Lê Đức H2 trị giá chiếc xe là 12.827.800 đồng .

Vật chứng: Đối với 02 giấy tờ bán xe thu của anh T đã được lưu làm tài liệu trong hồ sơ.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 174; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (quy định về án phí, lệ phí Tòa án).

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung K 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2024.

Về trách nhiệm dân sự:

  • - Buộc bị cáo Nguyễn Trung K bồi thường trả anh Nguyễn Văn T số tiền 20.000.000 đồng.
  • - Buộc anh Nguyễn Văn T hoàn trả anh Nguyễn Đình T1 số tiền 12.400.000 đồng.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Trung K bồi thường trả anh Lê Đức H2 số tiền 12.827.800 đồng .

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.641.390 đồng án phí dân sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà nội;
  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - Công an quận Đống Đa;
  • - Chi cục THA quận Đống Đa;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HS/VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Quản Văn Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 375/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 375/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger