TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 375/2024/HS-ST
Ngày: 23/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
- Bà Lê Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuyên – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 376/2024/TLST-HSST ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 370/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn S. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.
Sinh năm 1991, tại Nam Định;
Nơi đăng ký thường trú: Xóm C, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Trần Văn S1, sinh năm: 1966 và bà Trần Thị N, sinh năm: 1970. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Trần Thị L, sinh năm 1995 và có 01 con sinh năm 2014.
* Tiền án:
- Ngày 26/02/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 20/2020/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/10/2020.
- Ngày 17/9/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 127/2021/HS-ST; Chấp hành xong hình phạt tù 26/12/2023 (Chưa xóa án tích).
* Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty TNHH V WACOAL
Địa chỉ: Số A, Đường A, KCN A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Masatoshi K – Tổng Giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: bà Phạm Ngọc Thu T, sinh năm 1980. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Trường T1, sinh năm 1995;
Địa chỉ: D, L, phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 27/02/2024, Trần Văn S sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A22 lên trang mạng xã hội tra cứu bản đồ “Google map” và tìm được nơi trộm cắp tài sản là Công ty trách nhiệm hữu hạn V (địa chỉ tại đường A, khu công nghiệp A thuộc phường L, TP B, tỉnh Đồng Nai). S mang theo 01 ba lô có kích thước 44cm x 25cm và đặt xe mô tô G đi từ nhà nghỉ Q ở xã B, huyện H, TP Hồ Chí Minh đến bãi đất trống phía sau Công ty V. Đến 23 giờ 50 phút cùng ngày S để ba lô tại bãi đất trống, leo tường rào vào bên trong khuôn viên của công ty và đi đến văn phòng làm việc dùng tay phải giật ổ khoá tròn, làm ổ khoá bung ra, S vào bên trong phòng làm việc tìm kiếm tài sản và lấy 01 máy tính xách tay hiệu Dell và 13 máy tính bảng hiệu S2 (các loại) đựng vào 01 cái vỏ gối có sẵn tại văn phòng có kích thước 60cm x 41cm. Sau đó theo đường cũ thoát ra ngoài bãi đất trống dùng ba lô đựng tài sản vừa trộm cắp được, đi ra đường Đ đón xe taxi về lại nhà nghỉ Q ở xã B, huyện H, TP Hồ Chí Minh. Ngày 28/02/2024, S lên trang mạng xã hội tìm người để bán số tài sản và đã gặp anh Võ Trường T1, sinh năm 1995; nơi cư trú: D, L, phường I, quận G, TP Hồ Chí Minh) làm nghề mua bán điện thoại, S nói với anh T1 là hàng công ty T2 và thoả thuận bán 01 máy tính xách tay hiệu Dell và 13 máy tính bảng hiệu S2 (các loại) với số tiền 9.500.000₫ (Chín triệu năm trăm trăm nghìn đồng), số tiền này S đã tiêu xài hết.
Sau khi phát hiện vụ việc mất trộm tài sản, chị Phạm Ngọc Thu T là nhân viên phòng hành chính phụ trách an ninh Công ty TNHH V đến trình báo Đồn Công an Khu Công nghiệp B, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiến hành điều tra theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra Trần Văn S khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.
* Vật chứng thu giữ và xử lý như sau:
- 01 máy tính (loại xách tay) nhãn hiệu Dell Inspiron 13 7000; 05 máy tính bảng nhãn hiệu S3; 08 máy tính bảng nhãn hiệu S3; 13 ốp lưng máy tính bảng bằng nhựa; 01 vỏ gối màu xanh có kích thước 60cm x 41cm. Đây là những tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn V, Cơ quan điều tra đã thu hồi trao trả chủ sở hữu.
- 01 ba lô màu xanh đen có kích thước 44cm x 25cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22 màu đen, số I: 358475776121024 (là công cụ, phương tiện liên quan đến tội phạm); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05S màu đen, I: 35753364547837 (là tài sản của Trần Văn S, không liên quan đến tội phạm), chuyển Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà để giải quyết theo quy định của pháp luật.
- 01 USB bên trong có chứa dữ liệu liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của Trần Văn S vào ngày 28/02/2024 tại Công ty TNHH V, chuyển theo hồ sơ vụ án.
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 64/KL ngày 04/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố B kết luận: 13 (mười ba) máy tính bảng nhãn hiệu S3 (các loại) và 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell có tổng trị giá là 29.908.180₫ (Hai mươi chín triệu, chín trăm lẻ tám nghìn, một trăm tám mươi đồng).
Đối với 13 ốp lưng máy tính bảng bằng nhựa, người đại diện hợp pháp của Công ty V là chị Phạm Ngọc Thu T cho biết mua với giá 5.000đ (năm ngàn đồng) một cái, do sử dụng đã lâu, nay không còn giá trị nên không yêu cầu định giá.
* Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH V và anh Võ Trường T1 không yêu cầu S bồi thường thiệt hại.
Tại cáo trạng số 383/CT-VKSBH ngày 26 tháng 6 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Trần Văn S về tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn S khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo là đúng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa trình bày luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điều, khoản và tội danh nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Văn S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo (quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
Đề nghị Hội đồng xét xử: Bị cáo Trần Văn S từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn S không có ý kiến bào chữa, tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 23 giờ 50 phút này 28/02/2024, tại Công ty trách nhiệm hữu hạn V, có trụ sở tại Khu công nghiệp A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trần Văn S có hành vi đột nhập vào Công ty V, lén lút chiếm đoạt 13 máy tính bảng nhãn hiệu S3 và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell, đã được Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố B có tổng trị giá là 29.908.180₫ (Hai mươi chín triệu chín trăm lẻ tám nghìn một trăm tám mươi đồng).
[3] Về tội danh và khung hình phạt:
Xét thấy, hành vi của bị cáo Trần Văn S đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Văn S có tiền án, đã tái phạm chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên bị cáo đã phạm vào tình tiết định khung trách nhiệm hình sự “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Như vậy, cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân thành phố B đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo đã từng 02 lần bị đưa ra xét xử về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân, tự lao động kiếm sống mà lại cố ý tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng trong vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 ba lô màu xanh đen có kích thước 44cm x 25cm là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, do không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22 màu đen, số I: 358475776121024 của bị cáo là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05S màu đen, I: 357533645478537, là tài sản của Trần Văn S, không liên quan đến tội phạm, nên trả lại cho bị cáo Trần Văn S.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà).
Đối với 01 máy tính (loại xách tay) nhãn hiệu Dell Inspiron 13 7000; 05 máy tính bảng nhãn hiệu S3; 08 máy tính bảng nhãn hiệu S3; 13 ốp lưng máy tính bảng bằng nhựa; 01 vỏ gối màu xanh có kích thước 60cm x 41cm. Đây là những tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn V, Cơ quan điều tra đã thu hồi trao trả lại cho chủ sở hữu, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty TNHH V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Trường T1, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, nên không đặt ra giải quyết.
[8] Đối với anh Võ Trường T1 là người mua tài sản do Trần Văn S bán, nhưng anh T1 không biết đây là tài sản do phạm tội mà, nên không xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[10] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tại phiên tòa, xét thấy phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Trần Văn S 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/3/2024.
3. Về vật chứng trong vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 ba lô màu xanh đen có kích thước 44cm x 25cm.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22 màu đen, số I: 358475776121024 của Trần Văn S.
- Trả lại cho Trần Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05S màu đen, I: 357533645478537.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Văn S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Hùng |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 375/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 375/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Sang phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 2. Về hình phạt: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt: Trần Văn Sang 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/3/2024. 3. Về vật chứng trong vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. - Tịch thu và tiêu hủy: 01 ba lô màu xanh đen có kích thước 44cm x 25cm. - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22 màu đen, số Imei: 358475776121024 của Trần Văn Sang. - Trả lại cho Trần Văn Sang 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05S màu đen, Imei: 357533645478537. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa).
