|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 375/2025/DS-PT Ngày: 25/11/2025 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trúc Lâm.
Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Tuyết và bà Nguyễn Thị My My.
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Cẩm Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Công - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ dân sự thụ lý số 354/2025/TLPT – DS ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 396/2025/QĐ-PT ngày 11/11/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1966; Địa chỉ: B Y, Tổ dân phố E, phường E, thành phố B. tỉnh Đắk Lắk (Nay là số B Y, Tổ dân phố E, phường E, tỉnh Đắk Lắk). Có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1987 và ông Võ Ngọc T1, sinh năm 1983; Địa chỉ: A, Buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là số 102 TL14 – 26, Buôn K, phường T, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thu H và ông Võ Ngọc T1: Ông Tô Tiến D; Địa chỉ: E M, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là số E M, phường B, tỉnh Đắk Lắk). Có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H và ông Võ Ngọc T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T trình bày:
Do quen biết với nhau ngày 24/6/2024 vợ chồng ông T1 và bà H có mượn của bà T số tiền 1.000.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng. Thời hạn 02 ngày, khi vay không thế chấp tài sản gì. Không thỏa thuận lãi suất. Sau nhiều lần liên hệ nhưng ông T1 và bà H vẫn không trả. Do đó bà T làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Võ Ngọc T1 và bà Nguyễn Thị Thu H trả tổng số nợ gốc và lãi là 1.068.334.000 đồng trong đó nợ gốc 1.000.000.000 đồng và nợ lãi 68.334.000 đồng kể từ ngày 27/6/2024 đến ngày 05/3/2025.
* Tại bản tự khai ngày 15/4/2025 bị đơn ông Võ Ngọc T1 trình bày:
Ông T1 xác nhận ngày 24/6/2024 vợ chồng ông có mượn của cô T số tiền 1.000.0000.000 đồng. Hẹn 2 ngày trả, không thế chấp tài sản gì. Trong quá trình vay ông T1 đã trả 100.000.000 đồng chuyển khoản và 10.000.000 đồng tiền mặt. Hiện nay cô T khởi kiện vợ chồng ông trả số tiền nợ gốc là 1.000.000.000 đồng và 68.344.000 đồng nợ lãi thì ông đồng ý trả nợ. Nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin gia hạn trả dần thành 2 lần. Lần 1 ngày 24/4/2025 trả 500.000.000 đồng và lần 2 ngày 05/6/2025 trả hết số tiền nợ còn lại.
* Tại bản tự khai ngày 22/4/2025 bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Bà H xác nhận ngày 24/6/2024 vợ chồng bà có mượn của cô T số tiền 1.000.000.000 đồng đáo hạn ngân hàng. Hẹn 2 ngày trả.
Về phần trách nhiệm của bà H, bà muốn sang nhượng lại lô đất E cho cô T để bớt một phần tiền nợ, số tiền sau khi sang nhượng lô đất của cô T trả là 500.000.000 đồng. Số tiền này là tiền cá nhân của bà H, bản thân bà có thiện chí trả nợ. Chồng bà là ông T1 cũng đã trả được 100.000.000 đồng và 10.000.000 đồng tiền mặt. Số tiền còn lại vợ chồng ông bà sẽ thu xếp trả cho cô T.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T Buộc bà Nguyễn Thị Thu H và ông Võ Ngọc T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Kim T tổng số tiền nợ gốc và lãi là 1.104.167.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 07/2025/QĐ - BPKCTT ngày 18/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” được quy định tại Điều 126 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quyết định này không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo.
Tại Quyết định sửa chữa, bổ sung số 04a/2025/QĐ-SCBSBA ngày 16/7/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk đã quyết định:
Sửa chữa, bổ sung Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk như sau:
Tại dòng thứ 1 tính từ dưới lên trên của trang số 4 của Bản án đã ghi: “Buộc bà Nguyễn Thị Thu Hvà ông Võ Ngọc T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Kim T tổng số tiền nợ gốc và lãi là 1.104.167.000 đồng.”
Nay sửa chữa, bổ sung như sau: “Buộc bà Nguyễn Thị Thu H và ông Võ Ngọc T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Kim T tổng số tiền nợ gốc và lãi là 1.104.167.000 đồng, trong đó nợ gốc là 1.000.000.000 đồng, nợ lãi là 104.167.000 đồng”.
Ngày 04/8/2025, bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H và ông Võ Ngọc T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự giữ nguyên quan điểm trình bày. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn rút kháng cáo đối với nội dung bản án sơ thẩm tuyên án chưa cụ thể số tiền gốc và lãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự đã thực đầy đủ các quyền của mình theo quy định pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ một phần kháng cáo của bị đơn đối với nội dung bị đơn cho rằng bản án sơ thẩm tuyên án chưa cụ thể, không xác định rõ số tiền nợ gốc và nợ lãi; không chấp nhận các yêu cầu kháng cáo còn lại của bị đơn; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục kháng cáo: Bị đơn có đơn kháng cáo còn trong thời hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên đủ điều kiện để thụ lý, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
-
[2] Về nội dung kháng cáo:
- [2.1] Về kháng cáo của bị đơn cho rằng bản án sơ thẩm tuyên án chưa cụ thể, không xác định rõ số tiền nợ gốc và nợ lãi. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn rút kháng cáo đối với nội dung này. Căn cứ khoản 3 Điều 284 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu kháng cáo này của bị đơn.
- [2.2] Về kháng cáo của bị đơn đối với số tiền còn nợ nguyên đơn. Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H và ông Võ Ngọc T1 thừa nhận có vay của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T số tiền 1.000.000.000 đồng. Bị đơn kháng cáo cho rằng đã trả cho bà T hai lần với số tiền là 110.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm đều không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền 110.000.000 đồng theo như lời trình bày. Nguyên đơn bà T cũng không thừa nhận việc bị đơn đã thanh toán và khẳng định bị đơn vẫn còn nợ số tiền nợ gốc là 1.000.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định đúng số tiền bị đơn còn nợ nguyên đơn và buộc bị đơn phải thanh toán số tiền nợ gốc 1.000.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.
- [2.3] Đối với kháng cáo của bị đơn yêu cầu hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2025/QĐ-BPKCTT ngày 18/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk) về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”. Xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là cần thiết để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả tiền của bị đơn. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn về yêu cầu hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
- [3] Từ những phân tích, nhận định trên, xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H và ông Võ Ngọc T1; chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- [4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H và ông Võ Ngọc T1 phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ đó,
QUYẾT ĐỊNH:
-
[1] Căn cứ khoản 3 Điều 284, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- [1.1] Đình chỉ yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H và ông Võ Ngọc T1 đối với nội dung cho rằng bản án sơ thẩm tuyên án chưa cụ thể, không xác định rõ số tiền nợ gốc và nợ lãi.
- [1.2] Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H và ông Võ Ngọc T1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk.
- [2] Căn cứ khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 146, khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 1 Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- [2.1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T. Buộc bà Nguyễn Thị Thu H và ông Võ Ngọc T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Kim T tổng số tiền nợ gốc và lãi là 1.104.167.000 đồng, trong đó nợ gốc là 1.000.000.000 đồng, nợ lãi là 104.167.000 đồng.
- [2.2] Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- [2.3] Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 07/2025/QĐ - BPKCTT ngày 18/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” được quy định tại Điều 126 Bộ luật tố tụng dân sự.
- [2.4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Võ Ngọc T1 phải chịu 45.125.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng số tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000346 ngày 25/8/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Đắk Lắk. Hoàn trả lại cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T số tiền 22.026.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001077 ngày 18/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột (Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Đắk Lắk).
- [3] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7a; 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Trúc Lâm |
Bản án số 375/2025/DS-PT ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 375/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu Huyền và ông Võ Ngọc Tuấn đối với nội dung cho rằng bản án sơ thẩm tuyên án chưa cụ thể, không xác định rõ số tiền nợ gốc và nợ lãi; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu Huyền và ông Võ Ngọc Tuấn.
