V/v: Tranh chấp HĐ dịch vụ đặt mua bất động sản . | 1 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Thanh Bình |
Các Thẩm phán: | Bà Trần Thị Liên Anh Ông Chu Tuấn Anh |
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 19/11/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 375/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc " Tranh chấp HĐ dịch vụ đặt mua bất động sản."
Do bản án dân sự sơ thẩm số 157/2024/DSST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 499/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Phạm Kim N. Địa chỉ: 5 đường C, KP3, B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
* Bị đơn: Công ty Cổ phần K1. Địa chỉ trụ sở: Tầng G, Tòa nhà S, số A đường P, phường M, quận N, Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn H - Tổng giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Thành V, bà Nguyễn Thị Thanh H1, ông Vũ Nghị L, bà Cao Thị Ngọc M, bà Nguyễn Kiều O (Theo Giấy ủy quyền v/v tham gia tố tụng số 32/2024/GUQ-KSFHOMEPLUS ngày 12/6/2024).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần T2. Địa chỉ trụ sở: Tầng I, tòa nhà S, A P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn T, chức vụ: Tổng giám đốc. Đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Trà M1, ông Nguyễn Văn K, ông Phạm Đình L1, bà Ngô Quỳnh A (Theo Giấy ủy quyền v/v tham gia tố tụng số 54/2024/GUQ-SUNSHINE ngày 12/6/2024).
*Người kháng cáo: Bà Nguyễn Phạm Kim N, Công ty cổ phần T2.
Tại phiên tòa: Có mặt bà Nguyễn Phạm Kim N, ông Vũ Nghị L. Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:
2
Bà Nguyễn Phạm Kim N đầu tư vào CÔNG TY CỔ PHẦN K1 thông qua việc giao kết với nhau bởi Hợp đồng đặt mua bất động sản số: CCMN00033843 “Dự án Sunshine Marina M", được ký kết ngày 18/9/2022, cụ thể như sau: Giá trị khoản đặt cọc: 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng; Lợi nhuận cố định áp dụng và tính trên Khoản Đặt cọc là 8,40%/năm (trên cơ sở tình một năm bằng 365 ngày); Thời điểm chi trả lợi nhuận cố định (LNCĐ) và cam kết: 03 tháng. Tất cả các hợp đồng ký kết giữa tôi và Công ty Cổ phần K2 đều được bảo lãnh của Công ty cổ phần T2 (do các dự án bất động sản do Công ty cổ phần T2 là chủ đầu tư).
Thực hiện hợp đồng đã ký kết, bà Nguyễn Phạm Kim N đã chuyển cho Công ty Cổ phần K1 tổng số tiền là 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng (có tài liệu đính kèm việc đã chuyển tiền).
Đến nay, hết thời hạn thực hiện hợp đồng đã lâu nhưng phía Công ty Cổ phần K1 không có “Dự án Sunshine Marina Mui Ne” để bán cho bà Nguyễn Phạm Kim N và cũng không thanh toán khoản lợi nhuận cố định (LNCĐ) và giá trị đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng. Bà Nguyễn Phạm Kim N đã nhiều lần liên hệ với Công ty Cổ phần K3 để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ, nhưng phía Công ty vẫn không giải quyết.
Nay, bà Nguyễn Phạm Kim N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội giải quyết:
Thứ nhất, hủy các hợp đồng đã ký kết giữa bà và Công ty Cổ phần K1 như đã nêu trên.
Thứ hai, buộc Công ty Cổ phần K1 phải trả lại bà số tiền gốc là 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng mà bà đã chuyển cho Công ty Cổ phần K1 và tiền lãi đã thỏa thuận kể từ ngày ký kết hợp đồng đến ngày 15/12/2022 là: (300.000.000 x 8,40% x 18)/12=37.780.000 đồng.
Tổng số tiền cả gốc và lãi đến ngày 14/3/2024 là: 337.780.000 đồng (Ba trăm ba mươi bảy triệu bảy trăm tám chục nghìn đồng). Và số tiền lãi phát sinh trên nợ gốc từ ngày 15/12/2022 đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Thứ ba, trong trường hợp Công ty Cổ phần K1 không trả lại tiền cho bà, bà Nguyễn Phạm Kim N đề nghị Tòa án buộc Công ty cổ phần T2 phải thực hiện đúng nghĩa vụ đã bảo lãnh hoàn trả số tiền trên cho tôi.
* Đại diện theo ủy quyền của bị đơn - Công ty cổ phần K1 trình bày:
Ngày 15/09/2022, KSHomes Plus và bà Nguyễn Phạm Kim N có thỏa thuận ký kết hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản với các nội dung cơ bản như sau:
3
- Mục đích: Bà Nguyễn Phạm Kim N chấp thuận sử dụng dịch vụ tư vấn, môi giới và thu xếp không độc quyền nhằm mục đích bà Nguyễn Phạm Kim N có thể đặt mua/thuê bất động sản của dự án theo quy định của pháp luật và thỏa thuận của các bên tại hợp đồng.
- Để bảo đảm cho việc (i) thực hiện các cam kết, nghĩa vụ của mình tại hợp đồng và (1) chứng minh năng lực tài chính của bà Nguyễn Phạm Kim N khi chủ đầu tư/bên chuyển nhượng thông báo ký hợp đồng giao dịch bất động sản bà Nguyễn Phạm Kim N đồng ý đặt cọc cho KSHomes Plus một khoản tiền (“Khoản Tiền Bảo Đảm Đặt Mua").
- Trường hợp kết thúc thời hạn mà bà Nguyễn Phạm Kim N không nhận được thông báo về việc ký kết hợp đồng giao dịch với chủ đầu tư/bên chuyển nhượng; hoặc đã nhận được thông báo nhưng không đồng ý giao kết hợp đồng giao dịch với chủ đầu tư, hợp đồng dịch vụ đặt mua sẽ chấm dứt kể từ thời điểm kết thúc thời hạn. Khoản tiền bảo đảm đặt mua cùng toàn bộ lợi ích còn lại mà bà Nguyễn Phạm Kim N được hưởng sau khi trừ các khoản khấu trừ (nếu có) theo hợp đồng đặt mua sẽ được KSHomes Plus hoàn lại cho bà Nguyễn Phạm Kim N vào ngày hợp đồng đặt mua chấm dứt.
Thực hiện hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản nêu trên, KSHomes Plus đã nhận các khoản tiền bảo đảm đặt mua của bà Nguyễn Phạm Kim N với số tiền, thời gian cụ thể như sau:
Bảng kê các Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản giữa bà Nguyễn Phạm Kim N với KSHOMES PLUS
| S T T | Ngày xác lập giao dịch | Ngày đến hạn | Số Hợp đồng | Khoản Tiền Bảo Đảm ban đầu (VNĐ) | Khoản Tiền Bảo Đảm còn lại (VNĐ) | Lợi ích cố định |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 9/15/2022 | 12/15/2022 | CMMN00033843 | 300,000,000 | 300,000,000 | 8,4 % |
| 2 | Tổng | 300,000,000 | 300,000,000 | |||
Tuy nhiên, trong giai đoạn từ Quý IV năm 2022 đến nay, do sự suy thoái chung của nền kinh tế toàn cầu, thị trường bất động sản trong nước đóng băng, chính sách siết chặt tín dụng của các ngân hàng ... đã khiến cho các công ty bất động sản gặp rất nhiều khó khăn (không chỉ riêng K1 và các chủ đầu tư dự án bất động sản mà K1 có quan hệ hợp tác, đầu tư), trực tiếp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn thu và dòng tiền của K1.
4
Do đó, khi đến hạn hoàn trả giá trị khoản tiền bảo đảm đặt mua và lợi ích cố định theo hợp đồng đã ký kết, K1 chưa có khả năng thanh toán ngay cho bà Nguyễn Phạm Kim N theo đúng thỏa thuận.
Khi phát sinh vấn đề trên, K1 đã nhiều lần gặp gỡ, trao đổi với bà Nguyễn Phạm Kim N để tháo gỡ khó khăn. Đồng thời, K1 cũng đã hết sức nỗ lực tìm kiếm các giải pháp để bảo đảm quyền lợi của khách hàng. Cụ thể, trong thời gian vừa qua, K1 đã đề xuất khách hàng cảm thông và xem xét các phương án giải quyết như sau:
- Gia hạn thời gian thực hiện Hợp đồng thêm 24 tháng để Công ty có thể thu xếp nguồn tiền hợp lý chi trả, đồng thời khách hàng sẽ được nhận thêm một khoản lợi nhuận bổ sung theo thỏa thuận của các bên.
- Chuyển đổi giá trị khoản tiền đầu tư sang thành khoản thanh toán các bất động sản khác đã đủ điều kiện đưa vào kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật và ký kết Hợp đồng mua bán với Chủ đầu tư, tại các Dự án: Sunshine G, Sunshine G, Sunshine S, Sunshine D, Sunshine Capital Tây T, S, S, Sunshine P,...
Tuy nhiên đến nay, nguyên đơn và K1 vẫn chưa đạt được sự đồng thuận. K1 vẫn rất nỗ lực và thiện chí mong muốn thương lượng, hòa giải để tìm được tiếng nói chung với nguyên đơn trên cơ sở đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cả hai bên.
K1 kính mong Quý Tòa tiếp tục tạo điều kiện cho các bên được thương lượng, hòa giải và xử lý vụ việc trên tinh thần thiện chí; chia sẻ và hỗ trợ cho K1 có thêm thời gian thu xếp các nguồn thu khác, để sớm có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty CP T2 trình bày: Qua quá trình rà soát và đối chiếu các hồ sơ, tài liệu lưu trữ tại Công ty, Công ty S đã phát hành 01 Thư bảo lãnh ngày 15/9/2022 cho 01 Hợp đồng đặt mua bất động sản số CMMN00033843 ngày 15/9/2022 giữa bà Nguyễn Phạm Kim N và Công ty CP K1.
Việc phát hành T1 bảo lãnh sẽ tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa Công ty S1 - Công ty K1 tại từng thời điểm. Công ty S1 không can thiệp, không chịu trách nhiệm đối với các nội dung thỏa thuận tại hợp đồng đặt mua bất động sản giữa Công ty K1 và bà Nguyễn Phạm Kim N. Việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh được thực hiện và tuân thủ trên cơ sở quy định pháp luật Dân sự và các quy định pháp luật khác có liên quan và theo các điều khoản, nội dung của Thư Bảo lãnh đã được Công ty S1 phát hành.
1. Đối với nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng:
5
Căn cứ Điều 342 Bộ luật Dân sự quy định về trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh:
“1. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó.
2. Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và bồi thường thiệt hại."
Theo đó, Nguyên đơn có trách nhiệm thực hiện các quyền yêu cầu thanh toán với bên có nghĩa vụ là Công ty K1 để đảm bảo trước tiên các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Đối với nghĩa vụ thực hiện bảo lãnh theo 01 Thư bảo lãnh ngày 15/9/2022
Căn cứ nội dung Thư bảo lãnh đã phát hành, điều kiện để Công ty S1 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với bà Nguyễn Phạm Kim N khi và chỉ khi Nguyên đơn đáp ứng các điều kiện, bao gồm:
- + Có thông báo bằng văn bản được ký hợp lệ bởi Bên Nhận Bảo Lãnh;
- + Cung cấp bản gốc Thư bảo lãnh (bản gốc) và Hợp đồng Đặt mua (bản sao) đã ký;
- + Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh và hồ sơ được gửi hợp lệ và ký nhận bởi Tập đoàn T2 trước hoặc vào ngày hết hạn Thư Bảo Lãnh.
Tuy nhiên, theo hồ sơ sao chụp thì trong thời hạn thư bảo lãnh còn hiệu lực, Công ty S1 không nhận được đầy đủ hồ sơ yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh từ phía Nguyên đơn theo quy định tại các Thư bảo lãnh đã phát hành. Đến nay, thư bảo lãnh ngày 15/9/2022 đã hết hiệu lực chúng tôi không có nghĩa vụ thực hiện bảo lãnh theo hợp đồng.
3. Đối với nghĩa vụ thực hiện bảo lãnh theo Thư bảo lãnh ngày 16/12/2022:
Qua quá trình rà soát và đối chiếu với các hồ sơ, tài liệu lưu trữ tại Công ty, Công ty S2 đã phát hành 01 thư bảo lãnh đề ngày 16/12/2022. Tuy nhiên, sau khi xem xét lại hồ sơ đã sao chụp tại Tòa án và hồ sơ lưu trữ, Công ty S2 chưa nhận được đầy đủ hồ sơ yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của Nguyên đơn nên hiện tại chưa có căn cứ để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo yêu cầu.
Với nội dung trên Bản án dân sự sơ thẩm số 157/2024/DSST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Phạm Kim N đối với Công ty CP K1 về việc “Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản”.
6
2. Buộc Công ty cổ phần K1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán và Công ty cổ phần T2 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh các khoản tiền phát sinh từ Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản số CMMN00033843 ký kết ngày 15/9/2022 và “Giấy chứng nhận” số CMMN00033843 ký kết ngày 15/9/2022, bao gồm:
- - Khoản đầu tư gốc: 300.000.000 đồng;
- - Khoản lợi nhuận trong hạn từ ngày 15/9/2022 đến ngày 15/12/2022: 6.282.740 đồng;
- - Tiền lãi phát sinh kể từ ngày 16/12/2022 tính trên khoản đầu tư gốc chưa trả với mức lãi suất 10%/năm tính đến ngày xét xử là 05/8/2024 là: 49.150.684 đồng.
Tổng số tiền Công ty cổ phần K1 và Công ty cổ phần T2 phải thanh toán cho bà Nguyễn Phạm Kim N là 355.433.424 đồng (Ba trăm năm mươi lăm triệu, bốn trăm ba mươi ba nghìn, bốn trăm hai mươi bốn đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền thi hành án của các đương sự.
Không đồng ý với bản án dân sự sơ thẩm, Công ty cổ phần T2 kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm 157/2024/DSST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, bà Nguyễn Phạm Kim N kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm buộc Công ty cổ phần K1 phải thanh toán cho bà chi phí ăn ở, đi lại và tiền tổn thất tinh thần do việc Công ty cổ phần K1 không thực hiện nghĩa vụ đối với bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, Công ty cổ phần T2 giữ nguyên kháng cáo, bà Nguyễn Phạm Kim N rút toàn bộ kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
1. Về tố tụng:
Công ty cổ phần T2 và bà Nguyễn Phạm Kim N kháng cáo bản án sơ thẩm số 157/2024/DSST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội là trong thời hạn kháng cáo. Công ty cổ phần T2 đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định. Do vậy kháng cáo hợp lệ về hình thức.
Tại cấp phúc thẩm Hội đồng xét xử, Thẩm phán và thư ký đã tiến hành tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
7
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, thư ký Tòa án: Các thẩm phán tham gia phiên tòa và thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
- Về thẩm quyền: Bản án sơ thẩm số 157/2024/DSST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Căn cứ Điều 38 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án thành phố Hà Nội đã thụ lý phúc thẩm và giải quyết đúng thẩm quyền.
- Về thụ lý và thông báo thụ lý: Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã Thông báo việc thụ lý cho đương sự và VKS theo đúng qui định tại điều 285 BLTTDS.
- Triệu tập đầy đủ những người tham gia tố tụng theo quy định tại điều 294 BLTTDS
- Trình tự diễn biến tại phiên tòa đúng theo các quy định tại điều 297, điều 298, điều 302, điều 303, điều 305, điều 306 của BLTTDS;
2. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, điều 71, điều 72, điều 73 BLTTDS năm 2015.
3. Về nội dung vụ án
Sau khi phân tích, đánh giá về nội dung vụ án Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 1 điều 289, Khoản 2 Điều 308 BLTTDS. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Phạm Kim N. Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty cổ phần T2, sửa bản án sơ thẩm số 157/2024/DSST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội về phần tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí theo quy định. Vì vậy, kháng cáo là hợp lệ về hình thức.
[2]. Về nội dung:
Xét kháng cáo của Công ty cổ phần T2 đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
8
Xét Hợp đồng đặt mua bất động sản: Hợp đồng đặt mua bất động sản số CMMN00033843 ký kết ngày 15/9/2022 và “Giấy chứng nhận” số CMMN00033843 ký kết ngày 15/9/2022 đều được kí kết bởi người có thẩm quyền kí kết, nội dung và hình thức của các thỏa thuận đúng quy định của pháp luật. Các bên đương sự kí kết Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản nêu trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật Dân sự, nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên đương sự. Đối chiếu với nội dung của Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản cũng như quá trình thực hiện hợp đồng thấy: Công ty cổ phần K1 đã vi phạm thoả thuận trong Hợp đồng đã kí kết giữa hai bên, vì vậy bà N khởi kiện yêu cầu chấm dứt HĐ đặt mua bất động sản đã ký với Công ty cổ phần K1 và Công ty cổ phần K1 thanh toán cho bà N số tiền gốc của Hợp đồng đã kí là 300.000.000 đồng, các lợi ích mà bà N được hưởng theo thoả thuận Hợp đồng đã kí giữa hai bên là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
Theo đó tại Hợp đồng đặt mua bất động sản số CMMN00033843 ký kết ngày 15/9/2022 và “Giấy chứng nhận” số CMMN00033843 ký kết ngày 15/9/2022, lợi nhuận bà N được hưởng là 8,4%/năm tương đương với số tiền lợi ích (tính từ ngày15/9/2022 đến ngày 15/12/2022 là 03 tháng: 6.282.740 đồng.
Xét khoản yêu cầu về lãi phát sinh trên nợ gốc của bà N: Nguyên đơn yêu cầu mức lãi phát sinh trên nợ gốc là có căn cứ. HĐXX áp dụng theo Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tính mức lãi suất chậm thanh toán là 10%/năm. Như vậy:
+ Tiền lãi phát sinh kể từ ngày 16/12/2022 tính trên khoản đầu tư gốc chưa trả với mức lãi suất 10%/năm tính đến ngày xét xử là 05/8/2024 là: 300.000.000 đồng x 10% x 598 ngày chậm thanh toán/365 = 49.150.684 đồng.
Tổng số tiền gốc, lợi ích phát sinh và lãi chậm thanh toán Công ty CP Đ phải thanh toán cho bà Nguyễn Phạm Kim N là: 355.433.424 đồng.
Xét yêu cầu Toà án buộc Công ty CP T2 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo Thư bảo lãnh ngày 16/12/2022:
Thấy:
“1. Phạm vi bảo lãnh: Các nghĩa vụ thanh toán của bên được bảo lãnh (kể cả nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền bảo đảm đặt mua, chi trả lợi ích, bồi hoàn và bồi thường thiệt hại) cho bên nhân bảo lãnh phát sinh từ Hợp đồng.
2. Hiệu lực bảo lãnh: Thư bảo lãnh có hiệu lực kể từ ngày phát hành và hết hạn sau khi toàn bộ nghĩa vụ được bảo lãnh nêu tại Mục I đã được thực hiện hoặc giải trừ đầy đủ: Khi bên nhận bảo lãnh chuyển nhượng Hợp đồng theo đúng quy
9
định thì Thư bảo lãnh này cũng được tự động chuyển nhượng theo và có hiệu lực ràng buộc với bên nhận chuyển nhượng của bên nhận bảo lãnh”.
Bà N đã giao nộp cho Toà án cấp sơ thẩm Thư bảo lãnh của Công ty CP T2 phát hành ngày 15/9/2022 và ngày 16/12/2022. Đại diện Công ty T2 cũng thừa nhận thư bảo lãnh ngày 16/12/2022, tuy nhiên Công ty CP T2 cho rằng không nhận được thủ tục hồ sơ yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đầy đủ nên chưa có căn cứ để thực hiện bảo lãnh.
Đối với Thư bảo lãnh ngày 15/9/2022, Công ty T2 không chấp nhận bảo lãnh do hết hiệu lực. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc Công ty CP T2 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khoản tiền phát sinh từ Hợp đồng đặt mua bất động sản số CMMN00033843 ký kết ngày 15/9/2022 và “Giấy chứng nhận” số CMMN00033843 ký kết ngày 15/9/2022 - theo Thư bảo lãnh ngày 16/12/2022 là có căn cứ.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty cổ phần T2, sửa bản án sơ thẩm số 157/2024/DSST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội về phần tuyên án. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Phạm Kim N.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[3]. Về án phí:
Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty CP Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Án phí phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 308, điểm b khoản 1 điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Phạm Kim N; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 157/2024/DSST ngày 05/8/2024của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 38; Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 148; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
10
Căn cứ Điều 280, Điều 335, Điều 357; Điều 513; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Phạm Kim N đối với Công ty CP K1 về việc “Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản”.
2. Buộc Công ty cổ phần K1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản tiền phát sinh từ Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản số CMMN00033843 ký kết ngày 15/9/2022 và “Giấy chứng nhận” số CMMN00033843 ký kết ngày 15/9/2022, bao gồm:
- - Khoản đầu tư gốc: 300.000.000 đồng;
- - Khoản lợi nhuận trong hạn từ ngày 15/9/2022 đến ngày 15/12/2022: 6.282.740 đồng;
- - Tiền lãi phát sinh kể từ ngày 16/12/2022 tính trên khoản đầu tư gốc chưa trả với mức lãi suất 10%/năm tính đến ngày xét xử là 05/8/2024 là: 49.150.684 đồng.
Tổng số tiền Công ty cổ phần K1 phải thanh toán cho bà Nguyễn Phạm Kim N là 355.433.424 đồng (Ba trăm năm mươi lăm triệu, bốn trăm ba mươi ba nghìn, bốn trăm hai mươi bốn đồng).
Trường hợp anh Công ty cổ phần K1 không trả hoặc trả không đủ số nợ trên, bà Nguyễn Phạm Kim N có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý, buộc Công ty cổ phần T2 thanh toán các khoản tiền phát sinh từ Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản số CMMN00033843 ký kết ngày 15/9/2022 và “Giấy chứng nhận” số CMMN00033843 ký kết ngày 15/9/2022 để thu hồi nợ.
Sau khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án dân sự của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả đối với số tiền chưa thi hành xong theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty CP K1 phải chịu 17.772.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
11
Trả lại bà Nguyễn Phạm Kim N số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp là 4.000.000 đồng theo Biên lai BLTU/23 0009739 ngày 31/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Án phí phúc thẩm: Công ty cổ phần T2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Công ty cổ phần T2 đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0009993 ngày 04 tháng 9 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, được giữ lại để trừ vào án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại bà Nguyễn Phạm Kim N số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà N đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai BLTU/23 0009998 ngày 05/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm xét xử công khai và có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Lê Thanh Bình |
12
[3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án. Công ty CP K1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; khoản 4 Điều 91, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 280, Điều 335, Điều 357; Điều 513; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Phạm Kim N đối với Công ty CP K1 về việc “Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản”.
2. Buộc Công ty cổ phần K1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán và Công ty cổ phần T2 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh các khoản tiền phát sinh từ Hợp đồng dịch vụ đặt
13
mua bất động sản số CMMN00033843 ký kết ngày 15/9/2022 và “Giấy chứng nhận” số CMMN00033843 ký kết ngày 15/9/2022, bao gồm:
- - Khoản đầu tư gốc: 300.000.000 đồng;
- - Khoản lợi nhuận trong hạn từ ngày 15/9/2022 đến ngày 15/12/2022: 6.282.740 đồng;
- - Tiền lãi phát sinh kể từ ngày 16/12/2022 tính trên khoản đầu tư gốc chưa trả với mức lãi suất 10%/năm tính đến ngày xét xử là 05/8/2024 là: 49.150.684 đồng.
Tổng số tiền Công ty cổ phần K1 và Công ty cổ phần T2 phải thanh toán cho bà Nguyễn Phạm Kim N là 355.433.424 đồng (Ba trăm năm mươi lăm triệu, bốn trăm ba mươi ba nghìn, bốn trăm hai mươi bốn đồng).
Sau khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án dân sự của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả đối với số tiền chưa thi hành xong theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về án phí: Công ty CP K1 phải chịu 17.772.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại bà Nguyễn Phạm Kim N số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp là 4.000.000 đồng theo Biên lai BLTU/23 0009739 ngày 31/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
1. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
14
| Đỗ Thuý Anh |
15
Bản án số 375/2024/TLPT-DS ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hđ dịch vụ đặt mua bất động sản
- Số bản án: 375/2024/TLPT-DS
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HĐ dịch vụ đặt mua bất động sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ dịch vụ đặt mua bất động sản
