Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 375/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13/9/2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo, bà Nguyễn Thị Quế Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên tòa.

Ngày 13/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 379/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/8/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 306/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/9/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc L, sinh năm 1983; nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: K, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An; địa chỉ hiện nay: E T, G, A, New Zealand; vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Bùi Hạnh P, sinh năm 1979; địa chỉ: K, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án (Có xác thực của Đ tại New Zealand) nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc L trình bày:

Chị và anh Bùi Hạnh P kết hôn trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An vào ngày 22/12/2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Năm 2023, chị L đi xuất khẩu lao động tại N. Từ đó vợ chồng thường xuyên cãi vã, phát sinh nhiều mâu thuẫn nên quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng, tình cảm vợ chồng rạn nứt. Từ tháng 01/2024 đến nay hai vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Nay, chị L thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài, chị L làm đơn khởi kiện yêu cầu

Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Hạnh P.

Về con chung: Chị L và anh Bùi Hạnh P có một con chung là cháu Bùi Doãn Lê S ngày 26/5/2006. Hiện con chung đã đủ 18 tuổi trường thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Bùi Hạnh P trình bày:

Anh thừa nhận thời gian, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng như chị Lê Thị Ngọc L trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hanh phúc. Đến năm 2023, chị L đi xuất khẩu lao động tại New Zealand. Sau khi chị L đi nước ngoài thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nay, chị L làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị Lê Thị Ngọc L có 01 con chung là Bùi Doãn Lê sinh ngày 26/5/2006 hiện đang học tập và sinh sống cùng chị L tại New Zealand, cháu đã đủ 18 tuổi, trưởng thành nên không yêu cầu toà giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc L đang cư trú ở New Zealand, bị đơn anh Bùi Hạnh P có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình. Vụ án ly hôn, không có tranh chấp về con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Lê Thị Ngọc L hiện đang ở New Zealand, các văn bản tố tụng của nguyên đơn nộp tại Tòa án như Đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin xử vắng mặt đều có xác nhận của Đ tại New Zealand. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh P đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc L và anh Bùi Hạnh P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Hiện nay, chị L đang ở New Zealand. Vợ chồng không còn liên lạc, quan tâm, chăm sóc nhau từ tháng 01 năm 2024 đến nay. Cả hai bên đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nên mong muốn ly hôn. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Lê Thị Ngọc L và Bùi Hạnh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Lê Thị Ngọc L và anh Bùi Hạnh P được ly hôn.

[3] Về con chung: Chị Lê Thị Ngọc L và anh Bùi Hạnh P có 01 con chung là cháu Bùi Doãn Lê S ngày 26/5/2006. Hiện con chung đã đủ 18 tuổi, Cháu trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị Ngọc L và anh Bùi Hạnh P không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc L và anh Bùi Hạnh P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40, khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 122, 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị Ngọc L và anh Bùi Hạnh P được ly hôn.

2. Về con chung: Chị Lê Thị Ngọc L và anh Bùi Hạnh P có 01 con chung là cháu Bùi Doãn Lê S ngày 26/5/2006. Hiện con chung đã đủ 18 tuổi, trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị Ngọc L và anh Bùi Hạnh P không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc L phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0013077 ngày 09/8/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Trả lại cho chị L số tiền tạm ứng án phí 225.000 (hai trăm hai mươi lăm nghìn) đồng. Anh Bùi Hanh P1 phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Ngọc L có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Bùi Hạnh P có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Bến Thuỷ, TP. Vinh.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Từ

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Duy Bảo Nguyễn Thị Quế A

Nguyễn Thị Thu T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 375/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 375/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HNGĐ Lê Thị Ngọc L - Bùi Hạnh P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger