Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 375/2024/DS-ST

Ngày: 14 – 11 – 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diễm Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lý Kim Hân
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hương

- Thư ký phiên tòa: Cô Trần Thái Minh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 560/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 861/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.

Trụ sở: 266 – B N, phường V, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ Chi nhánh C1: 95 – 97 – I V, phường T, quận N, Thành phố Cần Thơ.

Đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Lê Duy P, sinh năm 1983 (GUQ số 704/GUQ-CN.CT ngày 15/11/2023) – có mặt.

- Bị đơn: Bà Phạm Bích C, sinh năm 1987 (có đơn xin giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: E N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết nguyên đơn Ngân hàng TMCP S trình bày:

Ngày 14/7/2017 bà Phạm Bích C có ký với Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh C1, Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của Bà Phạm Bích C, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng bà Phạm Bích C đã thực hiện các giao dịch tổng số tiền là 101.616.535 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay bà Phạm Bích C thanh toán được 114.995.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng bà Phạm Bích C vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Phạm Bích C vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 30/06/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn với lãi suất là 4,155%/tháng (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Tính đến ngày 31/10/2023, bà Phạm Bích C còn nợ các khoản sau: Nợ gốc 15.175.772 đồng; Lãi quá hạn: 2.581.524 đồng. Tổng cộng: 17.757.296 đồng (Bằng chữ: mười bảy triệu bảy trăm năm mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng). Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà Phạm Bích C có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên Bà Phạm Bích C vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh C1 kính đề nghị Quý Tòa giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:

  1. Buộc bà Phạm Bích C phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 14/11/2024 là 25.753.724 đồng (Bằng chữ: Hai mươi lăm triệu bảy trăm năm mươi ba ngàn bảy trăm hai mươi bốn đồng) trong đó - Nợ gốc: 15.175.772 đồng - Lãi quá hạn: 10.577.952 đồng.
  2. Và bà Phạm Bích C có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 15/11/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Kính đề nghị Tòa án xem xét, tạo điều kiện để Ngân hàng thu hồi nợ theo đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn bà Phạm Bích C có tư khai vào ngày 11/11/2024 trình bày:

Bà thừa nhận có ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh C1 vào ngày 14/7/2017, hạn mức tiêu dùng là 25.000.000 với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Trong thời gian từ 14/7/2017 cho đến khi vừa kết thúc dịch Covid năm 2021, bà có nộp đóng lãi đúng hạn cho Ngân hàng (thực hiện đúng nghĩa vụ và trách nhiệm khi sử dụng thẻ). Khoản nợ gốc bà còn nợ là 15.175.772 đồng và lãi là 114.995.000 đồng (lãi thanh toán đúng thời hạn với Ngân hàng).

Tuy nhiên khi kết thúc dịch covid đến nay, bà gặp rất nhiều khó khăn về tài chính, đẫn đến không thể hoàn thành được việc lãi đúng hạn với Ngân hàng.

Lý do Ngân hàng không liên lạc được với bà trong thời gian qua vì bà nhận rất nhiều cuộc gọi xử lý nợ từ nhiều bên, từ nhắn tin đến gọi điện tấn công đe dọa, khủng bố tinh thần bà và gia đình bà, gây ảnh hưởng đến công việc và thu nhập. Bà đã phải điều trị bệnh tầm cảm một thời gian dài và không nhận những cuộc gọi để tập trung phục hồi sức khỏe và tập trung công việc để làm lại.

Khi nhận được Thông báo thụ lý và Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án bà mới nhớ đến khoản vay này. Vì vậy, bà kính mong Ngân hàng cho bà được trả nợ gốc và lãi với thời gian 12 tháng tính từ 30/12/2024 cho đến ngày 30/12/2025. Trong thời gian 12 tháng nếu bà có nguồn thu nhập tốt hơn sẽ hoàn thành sớm hơn thời hạn 12 tháng.

Do điều kiện vừa xin được việc làm mới, không thể xin nghỉ phép nên bà có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà trong tất cả các phiên tòa.

Tại phiên tòa:

Đại diện ủy quyền của Ngân hàng TMCP S đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng:

  • Buộc bị đơn bà Phạm Bích C phải thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh tạm tính đến ngày 14/11/2024 là 25.753.724 đồng (Bằng chữ: Hai mươi lăm triệu bảy trăm năm mươi ba ngàn bảy trăm hai mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc: 15.175.772 đồng, lãi quá hạn: 10.577.952 đồng.
  • Và lãi phát sinh kể từ ngày 15/11/2024 cho đến khi tất toán hết khoản vay.
  • Ngân hàng không đồng ý với phương án trả nợ do bị đơn bà Bích C đã đề xuất. Đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều nhận định:

[1] Về thủ tục: Bị đơn bà Phạm Bích C đã được Tòa án tiến hành triệu tập hơn lệ, bị đơn đã có tự khai và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, thể hiện nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có cho bà Phạm Bích C vay vốn theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số 486265-0270 vào ngày 14/7/2017. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ gốc và lãi kể cả lãi suất quá hạn và lãi phát sinh sau ngày xét xử, do đó xác định đây là loại kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn có địa chỉ cư trú tại quận N, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn thể hiện Ngân hàng TMCP S có cho bà Phạm Bích C vay vốn theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số 486265-0270 vào ngày 14/7/2017 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) với hạn mức thẻ tín dụng là 25.000.000 đồng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng bà Phạm Bích C đã thực hiện các giao dịch tổng số tiền là 101.616.535 đồng, bà C có tự khai cũng thừa nhận đã sử dụng thẻ tín dụng từ ngày 14/7/2024 và xác nhận còn nợ số tiền gốc 15.175.772 đồng và lãi tạm tính đến 31/10/2023 là 2.581.524 đồng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ gốc và lãi còn lại là đúng quy định. Do vậy, Hội đồng xét xử cần buộc bị đơn bà Phạm Bích C phải thanh toán các khoản nợ gốc và lãi còn lại của Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số 486265-0270, tạm tính đến ngày 14/11/2024 với tổng số tiền là 25.753.724 đồng (Hai mươi lăm triệu bảy trăm năm mươi ba ngàn bảy trăm hai mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc: 15.175.772 đồng, lãi quá hạn: 10.577.952 đồng.

Và buộc bị đơn bà Phạm Bích C phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 15/11/2024 cho đến khi tất toán hết khoản vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số 486265-0270 là có căn cứ.

Đối với đề nghị xin trả dần 12 tháng của bị đơn, tại phiên tòa đại diện nguyên đơn không thống nhất nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật là 1.287.686 đồng. Nguyên đơn được nhận lại 444.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001401 ngày 31/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn bà Phạm Bích C.
  2. Buộc bị đơn bà Phạm Bích C phải trả cho Ngân hàng TMCP S số nợ gốc và lãi còn lại của Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số 486265-0270, tạm tính đến ngày 14/11/2024 với tổng số tiền là 25.753.724 đồng (Hai mươi lăm triệu bảy trăm năm mươi ba ngàn bảy trăm hai mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc: 15.175.772 đồng, lãi quá hạn: 10.577.952 đồng.

    Và buộc bị đơn bà Phạm Bích C phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 15/11/2024 cho đến khi tất toán hết khoản vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số 486265-0270.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Phạm Bích C phải chịu 1.287.686 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Nguyên đơn được nhận lại 444.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001401 ngày 31/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

  5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTPCT;
  • - VKSNDQNK;
  • - THADSQNK;
  • - Các đs;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

ĐỖ THỊ DIỄM TRANG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 375/2024/DS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 375/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Sài gòn thương tín kiện Bích Chi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger