Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 375/2024/DS-PT

Ngày: 28-8-2024

V/v: "Tranh chấp quyền sử dụng đất – ranh giới bất động sản liền kề"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến

Các Thẩm phán: Ông Trương Hoài Bình

Bà Võ Bích Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: – bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 28 tháng 08 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 115/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 06 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất- ranh giới bất động sản liền kề".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 07/03/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 240/2024/QĐPT-DS ngày 12 tháng 06 năm 2024, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Hồng H, sinh năm: 1959; Địa chỉ: A đường M, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.
  • - Người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Quốc N, sinh năm: 1979; Địa chỉ: D đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Theo văn bản ủy quyền ngày 28/02/2024). Có mặt
  • * Bị đơn: Ông Bùi Đức V, sinh năm: 1957; Địa chỉ: Số A đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (có mặt).
  • - Người đại diện hợp pháp: Ông Bùi Việt S, sinh năm: 1985 (Hợp đồng ủy ngày 04/3/2024). Có mặt
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Nguyễn Thị Bạch M, sinh năm: 1959; Địa chỉ: Số C đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Xin vắng);
    2. Ông Bùi Việt S, sinh năm: 1985. Địa chỉ: Số C đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Có mặt);
    3. Bà Phan Thị Bảo N1, sinh năm: 1985; Địa chỉ: Số C đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Xin vắng);

* Người kháng cáo: bị đơn Bùi Đức V

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/5/2017, đơn khởi kiện bổ sung ngày 16/12/2017 và bản tự khai ngày 29/5/2017, đại diện nguyên đơn trình bày và yêu cầu:

Bà H được cha mẹ cho một phần đất tiếp giáp với phần đất của cha mẹ bà H chuyển nhượng cho ông Bùi Đức V. Đến ngày 31/8/1993 Chi cục quản lí đất đai thuộc Sở nông nghiệp tỉnh C cũ tiến hành đo đạc và cấp giấy xác nhận là 1.200m² theo giấy xác nhận số 391/XN.ĐĐ.93 (thuộc thửa đất 362 tờ bản đồ số 01) cho bà H.

Đối với diện tích 1.500m² cha mẹ bà chuyển nhượng cho ông V vào năm 1985, năm 1994 ông V tự kê khai (bà H không có ký giáp ranh), và được cấp giấy xác nhận diện tích 1.619m². Nguyên nhận diện tích tăng là do có lấn ranh đất của gia đình bà.

Theo kết quả đo đạc và Bản trích đo địa chính số 52/TTKTTNMT ngày 21/09/2017 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C, ông V có lấn đất của gia đình bà tại vị trí A là 8,7m², vị trí B là 52,4m4. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà H yêu cầu ông V trả lại diện tích đất này cho bà H.

* Đại diện bị đơn ông Bùi Đức V trình bày:

Cha của bà H là ông Đỗ Kim H1 có diện tích 2.500m² đất. Ngày 03/06/1985 ông có mua phần hoa màu nằm trên phần đất có diện tích 1500m² gồm 03 bờ và 02 mương (trên đó có căn nhà 18m²) của ông Đỗ Kim H1. Đến 31/08/1994 Chi Cục quản lý đất đai C sau khi đo đạc diện tích thực tế đất của ông thì cấp cho ông G xác nhận số: 2640/XN.ĐĐ.94 cho phép ông được sử dụng chính thức diện tích 1619m². Ngày 27/03/1999 ông được UBND tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: N157935 với diện tích sử dụng 1619m². Từ năm 1985 đến nay phần mương của ông H1 là ranh giới giữa đất ông H1 và đất của ông vẫn còn. Năm 2008 ông có kéo hàng rào tạm giữa 02 thửa đất của ông và ông H1. Hàng rào này nằm trên phần bờ đất của ông và còn cách mương của ông H1 là ranh đất khoảng 1,5m.

Nay bà Đỗ Thị Hồng H là con ông Đỗ Kim H1 khởi kiện ông chiếm phần diện tích đất 119m² là không có cơ sở, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì phần diện tích đất của ông là hợp pháp.

Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên đưa ra xét xử. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 07/03/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã quyết định:

Chấp nhận

yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị Hồng H tranh chấp quyền sử dụng đất ranh giới bất động sản liền kề với bị đơn ông Bùi Đức V như sau:

Buộc bị đơn trả phần diện tích đất lấn chiếm cho nguyên đơn bà Đỗ Thị Hồng H theo diện tích đất thực tế theo bản trích đo địa chính số 52/TTKTTNMT, ngày 21/9/2017 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C tại vị trí A: 8,7 m² vị trí B: 53,4 m² (tổng diện tích A+B: 62.1 m²);

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí đo đạc, định giá, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/03/2024 bị đơn nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận phần đất ở vị trí A và B cho bị đơn.

Tại phiên Tòa phúc thẩm:

  • - Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
  • - Phần đất bị đơn nhận chuyển nhượng của cha nguyên đơn là 1.500m². Theo kết quả đo đạc, nếu tính luôn cả phần đất tranh chấp thì bị đơn chỉ dư hơn 1m², bị đơn không có lấn đất của nguyên đơn. Phần đất tranh chấp tại vị trí A+B, hiện nay không có ai sử dụng do có tranh chấp. Nếu nguyên đơn đồng ý, bị đơn thống nhất chia đôi phần đất tranh chấp, để xác định ranh rõ ràng. Bị đơn đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn.
  • - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
    • Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các nguyên đơn, các bị đơn nộp đơn kháng cáo và nộp tạm ứng án phí trong thời gian luật định nên xem xét hợp lệ về mặt hình thức.
    • Về nội dung vụ án và kháng cáo: Theo kết quả đo đạc, thẩm định thì ranh đất giữa hai bên đều do nguyên đơn, bị đơn tự chỉ ranh, không ranh cố định. Bị đơn và nguyên đơn đều sử dụng thiếu đất so với giấy chứng nhận. Nguyên đơn thì sử dụng dư so với đất được cha mẹ cho. Nên việc bị đơn thống nhất chia đôi là có lợi cho nguyên đơn. Đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn theo hướng chia đôi phần đất tranh chấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: bị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh giới bất động sản liền kề)” và giải quyết là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Theo đơn khởi kiện của bà Đỗ Thị Hồng H năm 2017, bà khởi kiện ông Bùi Đức V yêu cầu trả lại quyền sử dụng đất lấn chiếm. Cấp sơ thẩm đưa bà Nguyễn Thị H2 (vợ ông V, người trong hộ ông V, Chết năm 2001) tham gia với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, do bà H2 đã chết nên đưa ông V, ông S tham gia với tư cách là Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị H2 theo Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự, là không chính xác. Bởi, bà H2 đã chết trước khi nguyên đơn khởi kiện nên không tham gia với tư cách đương sự trong vụ án, do đó ông V, ông S, không tham gia với tư cách là Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị H2. Ông S tham gia phiên tòa với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[2] Về nội dung vụ án và kháng cáo của bị đơn:

[2.1] Theo Bản trích đo địa chính ngày 21/9/2017 do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C cung cấp và lời thừa nhận của các đương sự thể hiện thửa đất 247 tiếp giáp thửa đất 251, nếu chưa tính 62,10m² (gồm vị trí A 8,7m² và vị trí B 53,4m²) diện tích đất tranh chấp thì nguyên đơn, bị đơn đang sử dụng diện tích đất thực tế là:

  • - Nguyên đơn bà H2 đang sử dụng diện tích thực tế thửa đất 247 diện tích 1.042,1m², chênh lệch tăng 42,1m² so với diện tích được cha mẹ cho (1.000m²), thiếu 57,9m² đất so với giấy chứng nhận (theo giấy xác nhận thửa 247 diện tích 1.200m²).

Về nguồn gốc thửa đất 247: Nguồn gốc thửa đất 251 và 247 (trước đây là 362) là của cha bà H2. Thửa đất 251, cha bà H2 chuyển nhượng cho ông V, còn thửa 247 thì tặng cho bà H2. Năm 1993, bà H2 kê khai hợp thức hóa quyền sử dụng đất và được Chi cục quản lý đất đai tỉnh C (cũ) cấp Giấy xác nhận số 391/XN.ĐĐ93, qua đó xác minh và đo đạc thực tế phần đất bà H2 xin hợp thức hóa có diện tích 1.200m², thửa đất 362 (nay là 247), tờ bản đồ số 01.

  • - Bị đơn ông V đang sử dụng diện tích thực tế thửa đất 251 diện tích 1.438,5m², thiếu 61,5m² so với diện tích nhận chuyển nhượng, và thiếu 180,5m² đất so với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (theo giấy CNQSDĐ, thửa đất 251, diện tích 1.619m²).

Về nguồn gốc thửa đất 251: ông V có mua lại nhà, đất và hoa màu của ông Đỗ Kim H1 (cha nguyên đơn), có làm hợp đồng mua bán nhà (hay phần hoa màu) ngày 27/05/1985, diện tích đất 1.500m², đã được UBND phường A chứng thực ngày 01/6/1095. Đến ngày 03/6/1985, ông H1 viết biên bản bàn giao nhà và hoa màu cho ông V, nội dung giao phần đất có diện tích 1.500m², có kèm theo sơ đồ.

Ngày 31/8/1994, ông V làm đơn xin hợp thức hóa quyền sử dụng đất. Ngày 31/8/1994, Chi cục quản lý đất đai tỉnh C (cũ) cấp Giấy xác nhận số 2640/XN.ĐĐ94, qua đó xác minh và đo đạc thực tế phần đất ông V xin hợp thức hóa có diện tích 1.619m².

Ngày 27/3/1999, ông V được UBND tỉnh C (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00574, thửa đất 362 (nay là thửa 251), diện tích 1.619m², loại đất LNK.

[2.2] Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chổ ngày 10/8/2017 thì trên phần đất tranh chấp không có tài sản, không có cây trồng, không có công trình nhà cửa; ranh giới giữa hai thửa đất của nguyên đơn với bị đơn đều do các đương sự tự chỉ ranh, không có trụ ranh cố định, các đương sự không đưa ra được chứng cứ gì chứng minh ranh đất như mình chỉ, cũng không có sơ sở gì để xác định ranh theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.

Phần đất tranh chấp nguyên đơn cho rằng hiện tại gia đình đang sử dụng; còn bị đơn cho rằng hiện tại bị đơn đang sử dụng. Thực tế, nếu không tính luôn phần đất tranh chấp thì diện tích thực tế cả nguyên đơn, bị đơn đang sử dụng vẫn ít hơn so với với diện tích được cấp giấy chứng nhận, không có căn cứ để xác định ranh đất theo trình bày của các đương sự, các đương sự cũng không thỏa thuận được ranh giới nên cần phải xác định ranh rõ ràng cho các đương sự, tránh tranh chấp sau này, đồng thời ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Diện tích đất thực tế nguyên đơn đang sử dụng nhiều hơn so với diện tích được cha mẹ cho, nhưng ít hơn diện tích được cấp giấy xác nhận; còn diện tích bị đơn đang sử dụng ít hơn diện tích nhận chuyển nhượng của cha nguyên đơn và diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại phiên tòa, bị đơn đồng ý chia đôi diện tích tranh chấp, nên cần chấp nhận ý kiến của bị đơn, điều này cũng có lợi cho nguyên đơn, là phù hợp với tình hình thực tế sử dụng và lẽ công bằng. Như vậy, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ.

[3] Về án phí: Nguyên đơn, bị dơn đều là người cao tuổi nên được miễn án phí..

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, 175, 176 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 170, 203 Luật đất đai năm 2013;

Chấp nhận một phần kháng cáo bị đơn Bùi Đức V;

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 07/03/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
    1. Xác định ranh giới giữa thửa đất 251 với thửa đất 247 (ranh tại vị trí A trên bản trích đo địa chính) là đường thẳng kéo dài hết phần A, ranh được nối liền từ điểm giữa cạnh có chiều dai 1,43m (điểm giữa là điểm chia đoạn thẳng thành hai phần bằng nhau) đến điểm giữa cạnh có chiều dài 1,2m.
    2. Ranh giới giữa thửa đất 251 với thửa đất 247 tại vị trí A là đường thẳng nằm trên diện tích 8,7m²(vị trí A), chia diện tích tranh chấp thành 02 phần. Phần diện tích phía thửa đất 247, nguyên đơn được quyền sử dụng; bị đơn có trách giao trả lại quyền sử dụng phần đất này cho nguyên đơn. Phần diện tích phía thửa đất 251, bị đơn được quyền sử dụng.

    3. Xác định ranh giới giữa thửa đất 251 với thửa đất 247 (ranh tại vị trí B trên bản trích đo địa chính) là đường thẳng kéo dài hết phần B, ranh được nối liền từ điểm giữa cạnh có chiều dài 1,20m đến điểm giữa phía sau cạnh có chiều dài 0,77m.
    4. Ranh giới giữa thửa đất 251 với thửa đất 247 tại vị trí B là đường thẳng nằm trên diện tích 53,4,7m²(vị trí B), chia diện tích tranh chấp thành 02 phần. Phần diện tích phía thửa đất 247, nguyên đơn được quyền sử dụng; bị đơn có trách giao trả lại quyền sử dụng phần đất này cho nguyên đơn. Phần diện tích phía thửa đất 251, bị đơn được quyền sử dụng.

    Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tài sản do Tòa án lập ngày 10/8/2017 và Bản trích đo địa chính số 52/TTKTTNMT ngày 21/09/2017 do Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C cung cấp để xác định vị trí, kích thước, diện tích phần đất tranh chấp, vị trí ranh giới giữa thửa đất 251 với 247. Các đương sự có quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh diện tích thửa đất theo diện tích thực tế sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.

  2. Về chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản: Nguyên đơn chịu 5.000.000 đồng đã thu và chi xong.
  3. Về án phí:
    • - Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Nguyên đơn, Bị đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

      Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo hai biên lai thu: Nhận lại 744.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 003815, ngày 09/05/2017; Nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 004980, ngày 12/03/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

    • - Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn không phải nộp.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND-TPCT
  • - TAND Q.Ninh Kiều
  • - Các đương sự
  • - Chi Cục THADS Ninh Kiều
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Quyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 375/2024/DS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất - ranh giới bất động sản liền kề

  • Số bản án: 375/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất - ranh giới bất động sản liền kề
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger