Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 3746/2024/DS-ST

Ngày: 14-8-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hợi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Mai Thanh Giàu
  2. Ông Trần Đăng Vạn

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn T – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 190/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 5419/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5420/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty TNHH M.

    Địa chỉ trụ sở chính: số D Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

    • Ông Nguyễn Ý Q, sinh năm 2001.
    • Ông Trần Văn T1, sinh năm 1998.
    • Ông Ngô Vĩnh N, sinh năm 2001.

    Cùng địa chỉ liên hệ: Tầng C Tòa nhà G, số D Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Giấy ủy quyền số 153/2023/UQ-WDTC ngày 22/11/2023 của Công ty TNHH M).

  2. Bị đơn: Bà Từ Kiết L, sinh năm 1973

    Địa chỉ: số D T, khu phố A (tổ D, khu phố D cũ), phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 22/11/2023, nguyên đơn Công ty TNHH M, tại các bản tự khai ghi ngày 27/3/2024, ngày 11/6/2024, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Ý Q trình bày:

Ngày 22/01/2021, Công ty T2 (Việt Nam) và bà Từ Kiết L đã ký kết Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng (gọi tắt là hợp đồng tín dụng) số 1988601 theo đó Công ty T2 (Việt Nam) cho bà L vay số tiền 26.375.000 đồng (bao gồm khoản vay trả tiền mua hàng hóa 25.000.000 đồng, và phí bảo hiểm 1.375.000 đồng), thời hạn cho vay từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 20/01/2023, ngày thanh toán hàng tháng là ngày 20; số tiền trả hàng tháng là 1.681.722 đồng, ngày 20/01/2023 trả 1.536.257 đồng; lãi suất hàng tháng 3,67%/tháng, lãi suất theo năm 44%/năm (một năm là 365 ngày), mục đích vay: vay mua hàng hóa/dịch vụ và mua bảo hiểm người vay vốn/bảo hiểm dư nợ tín dụng cá nhân.

Thực hiện hợp đồng tín dụng, ngày 25/01/2021, Công ty T2 (Việt Nam) đã giải ngân số tiền vay mua hàng hóa của bà L vào tài khoản của bên bán hàng với số tiền 25.000.000 đồng và chuyển phí bảo hiểm 1.375.000 đồng vào Công ty cổ phần B.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà L đã thanh toán được 04 lần với tổng số tiền là 6.716.000 đồng, gồm 3.094.475 đồng tiền gốc và 3.621.525 đồng tiền lãi. Sau ngày 09/7/2021, bà L đã không thanh toán bất kỳ khoản nào mặc dù Công ty T2 (Việt Nam) đã thực hiện nhắc nhở bằng nhiều biện pháp.

Ngày 03/3/2022, Công ty TNHH M (sau đây gọi là Công ty M) đã ký Hợp đồng chuyển nhượng các khoản phải thu số 19/2022/TTCN/MAFC-WELCOME với Công ty T2 (Việt Nam) để mua lại khoản nợ trên của bà Từ Kiết L. Công ty T2 (Việt Nam) đã có Thông báo số 8417/2022/Welcome/TB-BP.THN ngày 07/3/2022 gửi bà L thông báo việc xử lý dư nợ của bà L theo hợp đồng tín dụng đã ký, chuyển nhượng quyền sở hữu khoản dư nợ cho Công ty M và yêu cầu bà L thanh toán các khoản tiếp theo của hợp đồng tín dụng đã ký cho Công ty M. Tuy nhiên, từ đó đến nay, bà L vẫn không thanh toán bất kỳ khoản nào cho Công ty M.

Việc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo đúng cam kết, kế hoạch trả nợ của bà L đã vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký. Do đó, Công ty M khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Từ Kiết L phải thanh toán cho Công ty TNHH M tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 14/8/2024 là 63.911.384 đồng (gồm: nợ gốc là 23.280.525 đồng, nợ lãi trong hạn là 32.909.641 đồng, lãi quá hạn là 7.721.217 đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 1988601 ký ngày 22/01/2021 giữa bà Từ Kiết L với Công ty T2 (Việt Nam) và Hợp đồng chuyển nhượng các khoản phải thu số 19/2022/TTCN/MAFC-WELCOME ngày 03/3/2022 giữa Công ty T2 (Việt Nam) với Công ty TNHH M. Thanh toán ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

3

Ngoài ra, kể từ ngày 15/8/2024, bà L vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo thảo thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.

Nguyên đơn xác định đây là khoản vay cá nhân với mục đích tiêu dùng nên chỉ yêu cầu cá nhân bà Từ Kiết L phải trả nợ, không yêu cầu chồng của bà L (nếu có) liên đới trách nhiệm trong việc trả nợ cho nguyên đơn.

Bị đơn bà Từ Kiết L đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, và tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng bà L vẫn vắng mặt, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về quan hệ tranh chấp: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có cơ sở.

- Về thụ lý và thẩm quyền giải quyết: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã chấp hành đúng theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Sau khi thụ lý Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã chuyển thông báo thụ lý vụ án đến Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đúng thời hạn theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Thủ tục cấp tống đạt văn bản tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Thời hạn chuẩn bị xét xử: Đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Quyết định đưa vụ án ra xét xử và hồ sơ: Được Tòa án gửi Viện kiểm sát nghiên cứu theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân theo đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

4

- Về nội dung vụ án: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, ý kiến của các đương sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà L phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty TNHH M khởi kiện yêu cầu bà Từ Kiết L phải thanh toán số tiền còn nợ theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 1988601 ngày 22/01/2021 giữa bà Từ Kiết L với Công ty T2 (Việt Nam) và Hợp đồng chuyển nhượng các khoản phải thu số 19/2022/TTCN/MAFC-WELCOME ngày 03/3/2022 giữa Công ty T2 (Việt Nam) với Công ty TNHH M. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 1988601 ngày 22/01/2021, thể hiện địa chỉ cư trú của bà L: số D T, tổ D, khu phố D, phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh

Theo kết quả xác minh của Công an phường L, thành phố T thì bà L có hộ khẩu thường trú tại địa phương, hiện nhà đã bán chuyển đi nơi khác sinh sống. Qua tra cứu trên hệ thống dữ liệu được biết đương sự L hiện đang ở tại số H TX52, tổ D, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo kết quả xác minh của Công an phường T, Quận A trả lời Phiếu yêu cầu xác minh số 886/TATPTĐ ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thì: Tại địa chỉ 83/23/44 TX52, tổ D, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh không có ai là Từ Kiết L, sinh năm 1973 đăng ký thường trú, tạm trú và thực tế cư trú tại địa chỉ trên.

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 22/11/2023 cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn xác định địa chỉ của người bị kiện bà L: số D T, tổ D, khu phố D, phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn không thể cung cấp địa chỉ khác của bà L vì sau khi ký hợp đồng tín dụng bà L không cung cấp thông tin về địa chỉ nơi cư trú mới cho Công ty T2 (Việt Nam) hay Công ty M. Nguyên đơn đề nghị Tòa án xác định địa chỉ cư trú thể hiện tại hợp đồng tín dụng trên là nơi cư trú cuối cùng của bị đơn.

Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì địa chỉ số D T, tổ D, khu phố D, phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ bị đơn đã từng cư trú mà nguyên đơn biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện và đã được Công an phường L, thành phố T xác nhận) là địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án này thuộc thẩm

5

quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Về thủ tục tố tụng:

[2.1] Việc tham gia tố tụng của các đương sự:

- Nguyên đơn do ông Nguyễn Ý Q là người đại diện theo ủy quyền tham gia và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Đương sự không yêu cầu mời người làm chứng, người tham gia tố tụng khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Văn T1, ông Ngô Vĩnh N và bị đơn bà Từ Kiết L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và nội dung Giấy ủy quyền số 153/2023/UQ-WDTC ngày 22/11/2023 của Công ty TNHH M, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông N, ông T1, bà L.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn xác định nguyên đơn khởi kiện yêu cầu cá nhân bà L thanh toán các khoản nợ do cá nhân bà L vay và xác định chỉ yêu cầu cá nhân bà L trả nợ, nguyên đơn không biết chồng của bà L là ai và không yêu cầu chồng bà L cùng trả nợ. Do đó Tòa án không có cơ sở triệu tập chồng bà L (nếu có) tham gia tố tụng trong vụ án này.

[2.2] Về chứng cứ của vụ án: Tòa án đã đảm bảo việc công khai các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại các điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự cam kết không có tài liệu chứng cứ nào khác và tại phiên tòa các đương sự cũng không bổ sung thêm chứng cứ nào khác.

[3] Xét yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về yêu cầu bị đơn bà L trả số tiền nợ gốc là 23.280.525 đồng:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày, xác nhận của người đại diện hợp pháp của đương sự, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:

Ngày 22/01/2021, Công ty T2 (Việt Nam) và bà Từ Kiết L đã ký kết Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 1988601 theo đó Công ty T2 (Việt Nam) cho bà L vay số tiền 26.375.000 đồng (bao gồm khoản vay 25.000.000 đồng, và phí bảo hiểm 1.375.000 đồng), thời hạn cho vay từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 20/01/2023, ngày thanh toán hàng tháng là ngày 20; số tiền trả hàng tháng là 1.681.722 đồng, 20/01/2023 trả 1.536.257 đồng; lãi suất hàng tháng 3,67%/tháng, lãi suất theo năm 44%/năm (một năm là 365 ngày), mục đích vay: vay mua hàng hóa/dịch vụ và mua bảo hiểm người vay vốn/bảo hiểm dư nợ tín dụng cá nhân, không có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Căn cứ quy định tại Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015 xác định đây là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi và không có biện pháp bảo đảm.

6

Xét hợp đồng nêu trên các bên tự nguyện ký kết, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật tại các điều 117, 118, 119, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng, và các quy định của pháp luật về thẩm quyền ký kết nên đây là hợp đồng hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo nội dung đã thỏa thuận.

Thực hiện thỏa thuận theo hợp đồng, ngày 25/01/2021, Công ty T2 (Việt Nam) đã giải ngân số tiền vay mua hàng hóa của bà L là 25.000.000 đồng vào tài khoản của bên bán hàng và chuyển phí bảo hiểm 1.375.000 đồng vào Công ty cổ phần B.

Sau khi được cấp tín dụng, bà L đã thanh toán được 04 lần với tổng số tiền là 6.716.000 đồng, gồm 3.094.475 đồng tiền gốc và 3.621.525 đồng tiền lãi; sau ngày 09/7/2021, bà L không trả nữa dù Công ty T2 (Việt Nam) đã nhiều lần thông báo nhắc nhở trả nợ. Xét thấy, bà L đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đúng hạn là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên được cấp tín dụng đã được các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 1988601 ký ngày 22/01/2021, do đó Công ty T2 (Việt Nam) chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ vay trước hạn đối với bà L là có căn cứ theo Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

Ngày 03/3/2022, Công ty M đã ký Hợp đồng chuyển nhượng các khoản phải thu số: 19/2022/TTCN/MAFC-WELCOME với Công ty T2 (Việt Nam) để mua lại khoản nợ trên của bà Từ Kiết L. Công ty T2 (Việt Nam) đã có Thông báo số: 8417/2022/Welcome/TB-BP.THN ngày 07/3/2022 gửi bà L thông báo việc mua bán nợ này.

Xét thấy: Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 69/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định: “Mua bán nợ là việc bên bán nợ chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền đòi nợ và các quyền khác liên quan đến khoản nợ cho bên mua nợ và bên mua nợ trả tiền cho bên bán nợ”. Theo Hợp đồng chuyển nhượng các khoản phải thu số 19/2022/TTCN/MAFC-WELCOME ngày 03/3/2022 thì Công ty T2 (Việt Nam) đã bán toàn bộ khoản nợ của bà L cho Công ty M, Công ty T2 (Việt Nam) không còn quyền lợi gì đối với khoản nợ của bà L nữa và toàn bộ quyền đối với số nợ này đã được chuyển giao cho Công ty M. Do đó, Công ty M có quyền khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bà Từ Kiết L.

Do bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết nên nguyên đơn yêu cầu bà L phải trả toàn bộ số nợ gốc còn lại 23.280.525 đồng là có căn cứ, phù hợp với Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên chấp nhận.

[3.2] Về yêu cầu bị đơn bà L trả tiền lãi.

Do bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã thỏa thuận nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà L phải thanh toán khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền còn nợ cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng và hợp đồng chuyển nhượng các khoản phải thu trên, tạm tính đến ngày 14/8/2024 là 32.909.641 đồng nợ lãi trong hạn và

7

7.721.217 đồng nợ lãi quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Công ty M: Buộc bà L phải thanh toán cho nguyên đơn ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật toàn bộ nợ gốc, lãi tính đến ngày 14/8/2024 tổng cộng là 63.911.384 đồng (trong đó nợ gốc là 23.280.525 đồng, nợ lãi trong hạn là 32.909.641 đồng, lãi quá hạn là 7.721.217 đồng) và thanh toán tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 1988601 ngày 22/01/2021 kể từ ngày 15/8/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn bà L phải chịu án phí phải chịu án phí sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự có giá ngạch với số tiền là: 3.195.569 đồng;

Nguyên đơn Công ty M không phải chịu án phí sơ thẩm nên được hoàn lại tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40; khoản 4 Điều 147, Điều 189, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Căn cứ Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 463, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

8

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH M:

Buộc bà Từ Kiết L phải thanh toán cho Công ty TNHH M tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 14/8/2024 là 63.911.384 đồng (trong đó nợ gốc là 23.280.525 đồng, nợ lãi trong hạn là 32.909.641 đồng, lãi quá hạn là 7.721.217 đồng) theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 1988601 ngày 22/01/2021 giữa bà Từ Kiết L với Công ty T2 (Việt Nam) và Hợp đồng chuyển nhượng các khoản phải thu số 19/2022/TTCN/MAFC-WELCOME ngày 03/3/2022 giữa Công ty T2 (Việt Nam) với Công ty TNHH M. Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 15/8/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, bà Từ Kiết L còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 1988601 ngày 22/01/2021.

2/ Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Từ Kiết L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 3.195.569 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

Hoàn lại cho Công ty TNHH M số tiền 1.443.714 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phía Tòa án số 0000650 ngày 22/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi bổ sung năm 2014).

4/ Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3746/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 3746/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cty M khởi kiện yêu cầu bà M trả tiền vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger