|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 3745/2024/DS-ST Ngày: 14-8-2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hợi
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Mai Thanh Giàu
- Ông Trần Đăng Vạn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng D – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 610/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 5417/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5418/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á.
- Bị đơn: Ông Phạm Phương N1, sinh năm 1984.
Địa chỉ trụ sở chính: số D N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1984.
Địa chỉ liên lạc: lầu 8 Tòa nhà A, số D C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Giấy ủy quyền số 1075/UQ-QLN.22 ngày 22/6/2022 và Giấy ủy quyền số 1264/UQ-QLN.24 ngày 13/8/2024 của của Ngân hàng TMCP Á).
Địa chỉ: số A Đường A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 11/10/2023, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á, tại bản tự khai ngày 14/5/2024, ông Đào Văn Q là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, cũng như tại phiên tòa, ông Nguyễn Thanh N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 02/12/2020, ông Phạm Phương N1 có ký với Ngân hàng TMCP Á (gọi tắt là Ngân hàng) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng. Căn cứ lịch sử tín dụng và tài khoản tiền gửi tiết kiệm của ông N1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số 4365999000261481 cho ông N1 với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng, lãi suất áp dụng tại thời điểm cấp thẻ là 27%/năm, lãi vay được tính trên số dư nợ theo lãi suất cho vay thẻ do Ngân hàng phát hành tại từng thời điểm.
Sau khi được cấp thẻ ông N1 đã thực hiện các lần giao dịch với tổng số tiền là 725.831.161 đồng. Ông N1 đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 629.913.405 đồng. Số tiền còn lại, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông N1 vẫn không có thiện chí thanh toán. Do ông N1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 20/6/2022, Ngân hàng đã chuyển khoản nợ thẻ sang nợ quá hạn, chấm dứt quyền sử dụng thẻ và thu hồi toàn bộ nợ thẻ chưa thanh toán của ông N1. Ngày 22/6/2022, Ngân hàng đã có thông báo chuyển nợ quá hạn và chấm dứt quyền sử dụng đối với thẻ tín dụng của ông N1.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông N1 phải thanh toán cho Ngân hàng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 14/8/2024 là 201.139.184 đồng trong đó nợ gốc là 114.217.984 đồng, nợ lãi quá hạn là 86.921.200 đồng.
Ông N1 còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 15/8/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ theo lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 02/12/2020 và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP Á.
Ngân hàng không biết vợ ông N1 là ai và đang cư trú tại đâu. Mặt khác Ngân hàng cũng chỉ cấp tín dụng cho cá nhân ông N1, không liên quan đến người khác nên Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân ông N1 có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng.
Bị đơn ông Phạm Phương N1 đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, và tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng ông N1 vẫn vắng mặt, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:
Về việc xác định quan hệ tranh chấp: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phạm Phương N1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền
3
tạm tính đến ngày 04/10/2023 là 164.556.141 đồng trong đó gồm vốn gốc là 114.217.999 đồng, lãi quá hạn là 50.338.142 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 05/10/2023 cho đến ngày trả hết nợ. Do đó, khi thụ lý vụ án căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì việc Thẩm phán xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là có cơ sở.
- Về thụ lý và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thì Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức có cơ sở giải quyết vụ án.
- Về xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự: Căn cứ vào đơn khởi kiện cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhận thấy, Thẩm phán xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, người tham gia tố tụng là đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về xác minh, thu thập, giao nộp chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Đúng quy định tại điều 93, 94, 95, 96, 97, 208, 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thụ lý, giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và đương sự: Đúng quy định tại điều 195, 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Ngày 27/3/2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý vụ án. Ngày 20/6/2024, Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thủ tục cấp, tống đạt văn bản tố tụng: Tòa án không vi phạm thời hạn giao các văn bản quyết định cho Viện kiểm sát và đương sự.
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:
Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn thực hiện không đúng nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn ông N1 phải thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số nợ gốc và lãi tính đến hết ngày 14/8/2024 là 201.139.184 đồng trong đó nợ gốc là 114.217.984 đồng, nợ lãi quá hạn là 86.921.200 đồng và thanh toán tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng đã ký và bản các điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP Á từ ngày 15/8/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông N1 phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng TMCP Á khởi kiện yêu cầu ông Phạm Phương N1 phải trả số tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 02/12/2020 và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP Á; do đó căn cứ quy định khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ghi ngày 02/12/2020, ông N1 ghi địa chỉ cư trú của ông: số A Đường A, khu phố E, phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh
Theo kết quả xác minh của Công an phường P, thành phố T: Phạm Phương N1 có hộ khẩu thường trú tại A Đường A, tổ A, khu phố E, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện đương sự N1 không còn thực tế cư trú tại địa phương, đi đâu không rõ.
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 10/11/2023 cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn xác định địa chỉ của người bị kiện ông N1: số A Đường A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, phía nguyên đơn đều không thể cung cấp địa chỉ khác của ông N1 vì sau khi ký đề nghị cấp thẻ ông N1 không cung cấp thông tin về địa chỉ nơi cư trú mới cho nguyên đơn. Nguyên đơn đề nghị Tòa án xác định địa chỉ cư trú thể hiện tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng là nơi cư trú cuối cùng của bị đơn.
Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì địa chỉ số A Đường A, phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ bị đơn đã từng cư trú mà nguyên đơn biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện và đã được Công an phường P, thành phố T xác nhận) là địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn. Do đó căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục sơ thẩm.
[2] Về thủ tục tố tụng:
[2.1] Việc tham gia tố tụng của các đương sự:
Nguyên đơn tham gia và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Đương sự không yêu cầu mời người làm chứng, người tham gia tố tụng khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị đơn ông N1 đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; Tòa án cũng không nhận được bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc ông N1 vắng mặt có lý do chính đáng do đó căn cứ quy định tại
5
điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông N1.
Theo nội dung Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ghi ngày 02/12/2020 thì tại thời điểm nguyên đơn cấp tín dụng cho bị đơn, bị đơn ông N1 còn độc thân. Phía nguyên đơn cũng không yêu cầu vợ ông N1 phải có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn do đó Tòa án không có cơ sở triệu tập vợ ông N1 (nếu có) tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2.2] Về chứng cứ của vụ án: Tòa án đã đảm bảo việc công khai các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại các điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự cam kết không có tài liệu chứng cứ nào khác và tại phiên tòa các đương sự cũng không bổ sung thêm chứng cứ nào khác.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
[3.1] Về yêu cầu bị đơn ông N1 trả số tiền nợ gốc 114.217.984 đồng:
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ghi ngày 02/12/2020 của ông Phạm Phương N1, được Ngân hàng TMCP Á chấp thuận có cơ sở xác định Ngân hàng TMCP Á và ông N1 có tự nguyện giao kết hợp đồng vay tài sản theo đó Ngân hàng cấp tín dụng cho ông N1 với mức cấp tín dụng là 100.000.000 đồng, lãi suất áp dụng tại thời điểm cấp thẻ là 27%/năm, lãi được tính trên lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau và ông N1 phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 5 của Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng.
Theo trình bày của đại diện nguyên đơn tại phiên tòa phù hợp với Tóm tắt sao kê cho thấy: Trong quá trình sử dụng thẻ, ông N1 đã giao dịch với tổng số tiền 725.831.161 đồng. Ông N1 đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 629.913.405 đồng. Từ ngày 21/3/2022, đến nay, ông N1 không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Ngân hàng. Do đó ngày 20/6/2022, Ngân hàng chuyển toàn bộ khoản nợ của ông N1 sang nợ quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 10 của Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng.
Căn cứ thỏa thuận của các bên tại Điều 10, Điều 11 của Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, việc Ngân hàng khởi kiện yêu ông N1 phải trả số tiền nợ gốc là 114.217.984 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[3.2]. Về yêu cầu trả tiền lãi:
Do ông N1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông N1 phải thanh toán khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền chậm thanh toán kể từ ngày 21/6/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 02/12/2020 và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng, tạm tính đến ngày 14/8/2024 là 86.921.200 đồng nợ lãi quá hạn là phù hợp với thỏa thuận
6
của các bên tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 02/12/2020, Điều 10 của Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á: Buộc ông N1 phải thanh toán cho Ngân hàng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật toàn bộ nợ gốc, lãi tính đến ngày 14/8/2024 tổng cộng là 201.139.184 đồng (trong đó nợ gốc là 114.217.984 đồng, nợ lãi quá hạn là 86.921.200 đồng) và thanh toán tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 02/12/2020 và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng kể từ ngày 15/8/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn ông N1 phải chịu án phí phải chịu án phí sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự có giá ngạch với số tiền là: 10.056.959 đồng;
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á không phải chịu án phí sơ thẩm nên được hoàn lại tạm ứng án phí đã nộp.
- Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Căn cứ khoản 2 Điều 180 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nguyên đơn phải chịu (đã thực hiện xong).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 180, khoản 4 Điều 189, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân
7
tối cao;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á:
- Án phí dân sự sơ thẩm và lệ phí thông báo:
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi bổ sung năm 2014).
- Về quyền kháng cáo:
Buộc ông Phạm Phương N1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Á toàn bộ nợ gốc, lãi tính đến ngày 14/8/2024, tổng cộng là 201.139.184 đồng (trong đó nợ gốc là 114.217.984 đồng, nợ lãi quá hạn là 86.921.200 đồng), theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 02/12/2020 và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP Á. Thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 15/8/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, ông Phạm Phương N1 còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 02/12/2020 và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP Á.
- Ông Phạm Phương N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự có giá ngạch là 10.056.959 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
H lại cho Ngân hàng TMCP Á số tiền 4.113.904 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0025745 ngày 21/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Ngân hàng TMCP Á phải chịu (đã thực hiện xong).
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
8
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hợi |
Bản án số 3745/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 3745/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu ông N trả tiền vay
