Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự Do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 3742/2024/DS-ST

Ngày: 14/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Hoài.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Gái.
  2. Ông Võ Văn Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa:Nguyễn Ngọc Bích – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 1422/2023/TLST – DS ngày 11/10/2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4358/2024/QĐXXST- DS ngày 17 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 5482/2024/QĐST – DS ngày 16 tháng 7 năm 2024; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH C.

Địa chỉ: Quốc lộ A, xã M, huyện B, tỉnh Long An.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có bà Phạm Hồ Như H, sinh năm: 1995 làm đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 09/CJ – UQ ngày 22/04/2024).

Bị đơn: Ông Phan Văn Q, sinh năm: 1984.

Địa chỉ: Căn hộ C chung cư L, C N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH T.

Địa chỉ: Số F Đường G, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Văn L,

Địa chỉ: Số F Đường G, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 29/8/2023, các bản tự khai, biên bản làm việc, biên bản hòa giải, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty TNHH C có bà Phạm Hồ Như H làm đại diện theo ủy quyền có đơn xin xử vắng mặt nhưng có lời khai trình bày:

Ngày 11 tháng 12 năm 2021, Công ty TNHH C (sau đây gọi là Công ty C) và ông Phan Văn Q có ký kết 02 hợp đồng mua bán thịt heo mảnh và thịt heo cho cửa hàng P số 22002/HĐMN/HM/CJ-PVQ và 22003/HĐMB/PS/CJ-PVQ. Theo hợp đồng, ông Phan Văn Q sẽ chuyển tiền hàng vào tài khoản Công ty TNHH C – CN BÌNH DƯƠNG. Sau đó, Công ty C giao hàng thì ông Phan Văn Q ký xác nhận vào phiếu giao hàng.

Từ ngày 22/7/2022 đến ngày 28/8/2022, ông Phan Văn Q mua hàng tổng cộng 43.951,60 kg thịt heo mảnh trị giá 1.693.767.700 đồng. Tuy nhiên, từ ngày 21/7/2022 đến ngày 10/05/2023 ông Q mới thanh toán cho Công ty C số tiền 1.517.000.000 đồng. Như vậy, đến ngày hết ngày 10/05/2023 ông Phan Văn Q còn nợ Công ty C 176.767.700 đồng.

Ngày 20/12/2022 và ngày 28/12/2022, Công ty TNHH T có gửi Đơn xin gia hạn nợ cho Công ty C với nội dung “ông Phan Văn Q không có đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho CJ. Vì vậy, Huy Hoàng F sẽ thay ông Phan Văn Q thực hiện phần nghĩa vụ này theo từng tháng. Cụ thể, Huy Hoàng F sẽ trả cho CJ 50.000.000 đồng/tháng vào ngày 15 hàng tháng cho tới khi hết khoản nợ 345.000.000”.

Ngày 01/02/2023, Công ty C gửi cho ông Phan Văn Q biên bản xác nhận công nợ với số tiền 339.785.945 đồng, bao gồm: 163.018.245 đồng tiền mua thịt heo Porkshop và 176.767.700 đồng tiền mua thịt heo phá lóc. Đến ngày 21/02/2023, ông Phan Văn Q đã trả đủ số tiền 163.018.245 đồng tiền nợ mua thịt heo Porkshop cho Công ty C. Như vậy, ông Phan Văn Q còn nợ Công ty C số tiền 176.767.700 đồng tiền mua thịt heo mảnh. Trong biên bản xác nhận công nợ mà Công ty C gửi cho ông Phan Văn Q, đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T là ông Nguyễn Văn L ký và đóng mộc công ty.

Ngày 11/05/2023, ông Q tiếp tục trả cho Công ty C số tiền 20.000.000 đồng. Như vậy, ông Q còn nợ Công ty C số tiền 156.767.700 đồng. Nay Công ty TNHH C yêu cầu ông Phan Văn Q phải trả số tiền còn thiếu là 156.767.700 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi bảy nghìn bảy trăm đồng), không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên.

Nay nguyên đơn rút yêu cầu đối với yêu cầu khởi kiện: Nếu ông Phan Văn Q không trả số tiền trên, Công ty TNHH C yêu cầu CÔNG TY TNHH T có nghĩa vụ phải trả số tiền 156.767.700 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi bảy nghìn bảy trăm đồng).

Bị đơn ông Phan Văn Q vắng mặt nên không có lời khai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH T có ông Nguyễn Văn L là người đại diện theo pháp luật vắng mặt nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Theo những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy nguyên đơn Công ty TNHH C yêu cầu ông Phan Văn Q trả tiền hàng còn thiếu là 156.767.700 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi bảy nghìn bảy trăm đồng) là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đối với việc rút 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.

Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Tranh chấp giữa Công ty TNHH C và ông Phan Văn Q là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Phan Văn Q đang cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.2]Về tố tụng:

Căn cứ vào kết quả trả lời xác minh của Công an phường B, thành phố T: Công dân Phan Văn Q và gia đình bán nhà về ở tại: Căn hộ C, chung cư L, số C, đường N, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào công văn số 690/ĐKKD – T6 ngày 22/01/2024 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H thể hiện thông tin Công ty TNHH T, trụ sở chính: 68, đường G, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1968, địa chỉ liên hệ: 68, đường G, phường P, thành phố

T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào kết quả xác minh của Công an phường P cho biết: Ông Nguyễn Văn L hiện đang thực tế cư trú tại F, đường G, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án số 14227/2023/TB-TLVA ngày 11/10/2023, giấy triệu tập đương sự; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 1422/TB-TA ngày 12/3/2024, giấy triệu tập đương sự ngày 12/03/2024; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 2622/TB-TA ngày 02/5/2024, giấy triệu tập đương sự ngày 02/5/2024; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 29/5/2024, giấy triệu tập xét xử ngày 02/5/2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4358/2024/QĐXXST-DS ngày 17/6/2024, giấy triệu tập đương sự ngày 12/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 5482/2024/QĐST-DS ngày 16/7/2024, giấy triệu tập xét xử ngày 16/7/2024 đối với ông Phan Văn Q; Công ty TNHH T và ông Nguyễn Văn L tại địa chỉ Căn hộ C, chung cư L, số C, đường N, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trụ sở Ủy ban nhân dân B; Địa chỉ: F, đường G, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trụ sở Ủy ban nhân dân phường B và tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, yêu cầu các bên có mặt tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông Q, Công ty TNHH T và ông Nguyễn Văn L vẫn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, người đại diện ủy quyền của nguyên đơn Công ty TNHH C có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn Công ty TNHH C, bị đơn ông Phan Văn Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH T có ông Nguyễn Văn L là người đại diện theo pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

Đối với yêu cầu buộc ông Phan Văn Q phải trả cho Công ty TNHH C số tiền còn thiếu là 156.767.700 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi bảy nghìn bảy trăm đồng), Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị đơn ông Phan Văn Q vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án và không có văn bản phản hồi đối với các tài liệu chứng cứ do Công ty TNHH C xuất trình. Do đó căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, các các tài liệu chứng cứ do Công ty TNHH C xuất trình thuộc trường hợp không cần phải chứng minh.

Căn cứ hợp đồng số 22002/HĐMB/HM/CJ – PVQ ngày 11/12/2021 và hợp đồng số 22003/HĐMB/PS/CJ – PVQ ngày 13/12/2021 do nguyên đơn cung cấp có cơ sở xác định Công ty TNHH C và ông Phan Văn Q có ký kết với nhau hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng nêu trên giữa hai bên là tự nguyện, nội dung, hàng hóa thỏa thuận trong hợp đồng đều thể hiện phù hợp với ngành nghề đăng ký kinh doanh, do người có thẩm quyền ký kết nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên. Tổng giá trị hợp đồng các bên thỏa thuận là 1.693.767.700 đồng

(Một tỷ, sáu trăm chín mươi ba triệu, bảy trăm sáu mươi bảy nghìn, bảy trăm đồng. Tuy nhiên, từ ngày 21/7/2022 đến ngày 11/05/2023 ông Q đã thanh toán cho Công ty TNHH C số tiền 1.537.000.000 đồng (Một tỷ, năm trăm ba mươi bảy triệu đồng), cụ thể: Ngày 21/7/2022, ông Q trả số tiền 50.000.000 đồng; Ngày 23/7/2022, ông Q trả số tiền 87.000.000 đồng; Ngày 27/7/2022, ông Q trả số tiền 170.000.000 đồng; Ngày 02/8/2022, ông Q trả số tiền 220.000.000 đồng; Ngày 08/8/2022, ông Q trả số tiền 200.000.000 đồng; Ngày 10/8/2022, ông Q trả số tiền 150.000.000 đồng; Ngày 25/8/2022, ông Q trả số tiền 200.000.000 đồng; Ngày 29/8/2022, ông Q trả số tiền 200.000.000 đồng; Ngày 05/9/2022, ông Q trả số tiền 100.000.000 đồng; Ngày 30/9/2022, ông Q trả số tiền 50.000.000 đồng; Ngày 10/10/2022, ông Q trả số tiền 50.000.000 đồng; Ngày 15/11/2022, ông Q trả số tiền 40.000.000 đồng; Ngày 11/5/2023, ông Q trả số tiền 20.000.000 đồng. Như vậy, có cơ sở xác định: Ông Phan Văn Q chưa thanh toán cho Công ty TNHH C số tiền còn thiếu là 156.767.700 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu, bảy trăm sáu mươi bảy nghìn, bảy trăm đồng). Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ mua hàng hóa còn thiếu là có cơ sở. Đề nghị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Đối với ý kiến không yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi là tự nguyện và có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn Công ty TNHH C không yêu cầu ông Phan Văn Q thanh toán tiền lãi đối với số tiền nợ còn thiếu. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với việc rút 01 phần yêu cầu khởi kiện: Nếu ông Phan Văn Q không trả số tiền trên, Công ty TNHH C yêu cầu CÔNG TY TNHH T có nghĩa vụ phải trả số tiền 156.767.700 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi bảy nghìn bảy trăm đồng). Xét việc rút 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 20215, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Công ty TNHH C được chấp nhận nên ông Phan Văn Q phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;; khoản 2 Điều 244; Điều 267; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • - Căn cứ Điều 430 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Luật Thi hành án dân sự;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH C:

Buộc ông Phan Văn Q phải trả cho Công ty TNHH C số tiền còn thiếu là 156.767.700 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi bảy nghìn bảy trăm đồng).

Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty TNHH C không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên.

Các bên thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày Công ty TNHH C có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Phan Văn Q không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán số tiền trên, ông Phan Văn Q còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Đình chỉ xét xử đối với việc Công ty TNHH C rút 01 phần yêu cầu khởi kiện về việc: Nếu ông Phan Văn Q không trả số tiền trên, Công ty TNHH C yêu cầu CÔNG TY TNHH T có nghĩa vụ phải trả số tiền 156.767.700 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi bảy nghìn bảy trăm đồng).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Phan Văn Q phải chịu án phí sơ thẩm là 7.838.385 đồng (Bảy triệu, tám trăm ba mươi tám nghìn, ba trăm tám mươi lăm đồng).

H1 lại cho Công ty TNHH C số tiền tạm ứng án phí là 3.919.192 đồng (Ba triệu, chín trăm mười chín nghìn, một trăm chín mươi hai đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0005516 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo:

Công ty TNHH C, ông Phan Văn Q, Công ty TNHH T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Hà Thị Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3742/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán

  • Số bản án: 3742/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty VinaAgr- Phan Văn Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger