|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 3741/2024/DS-ST Ngày: 14 – 8 – 2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Hoài
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Gái.
- Ông Võ Văn Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1725/2023/TLST-DS ngày 31/10/2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4359/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 5481/2024/QĐST – DS ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á;
Địa chỉ: D N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn ông Phạm Minh T, sinh năm 1978; Địa chỉ: Lầu H, Tòa nhà A, D C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh làm đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 1265/UQ-QLN.24, lập ngày 13/8/2024).
Bị đơn: Ông Nguyễn Trung P, sinh năm: 1966;
Địa chỉ: Số D, Khu phố C, Đường số A, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/5/2023, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á (gọi tắt là Ngân hàng Á) có ông Phạm Minh T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 05/03/2020, ông Nguyễn Trung P ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng nội địa của Ngân hàng TMCP Á, Các văn bản khác của ông Nguyễn Trung P ký với A về việc sử dụng thẻ tín dụng.
Ngày 10/03/2020, Ngân hàng TMCP Á cấp tín dụng cho ông Nguyễn Trung P, chi tiết như sau: Số thẻ tín dụng 9704163101029326, hạn mức sử dụng thẻ: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng); loại thẻ: Credit Express, hiệu lực thẻ đến tháng 03 năm 2022; Lãi suất (trong hạn, quá hạn), phí: Theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Á - là một phần không tách rời của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng
Trong quá trình sử dụng thẻ, ông Nguyễn Trung P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng Á, căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt sử dụng thẻ, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn. Ngày 09/11/2021, Ngân hàng Á đã chuyển khoản nợ thẻ tín dụng sang nợ quá hạn, đồng thời quyết định chấm dứt việc sử dụng thẻ và thu hồi toàn bộ nợ thẻ chưa thanh toán của ông Nguyễn Trung P. Ngày 21/03/2022, Ngân hàng Á ra Thông báo chuyển nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ đối với thẻ tín dụng nêu trên. Dư nợ chưa trả tính đến ngày 14/8/2024, ông Nguyễn Trung P còn nợ Ngân hàng Á các khoản sau: Nợ gốc 50.495.824 đồng, lãi quá hạn 46.118.728 đồng.
Nay Ngân hàng TMCP Á yêu cầu:
- Buộc ông Nguyễn Trung P trả ngay cho Ngân hàng Á tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 14/8/2024 là 96.614.552 đồng (Chín mươi sáu triệu, sáu trăm mười bốn nghìn, năm trăm năm mươi hai đồng), trong đó gồm: nợ gốc 50.495.824 đồng, lãi quá hạn 46.118.728 đồng.
- Buộc ông Nguyễn Trung P còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP Á tính kể từ ngày 15/8/2024 đến ngày trả hết nợ. Thứ tự trả nợ như sau: Vốn gốc, lãi quá hạn.
Bị đơn ông Nguyễn Trung P vắng mặt nên không có lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Theo những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy Ngân hàng TMCP Á yêu cầu ông Nguyễn Trung P thanh toán số tiền nợ gốc: 50.495.824 đồng; Lãi quá hạn: 46.118.728 đồng. Tổng cộng: 96.614.552 đồng (Bằng chữ: Chín mươi sáu triệu, sáu trăm mười bốn nghìn, năm trăm năm mươi hai đồng) và tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 15/8/2024 cho đến khi thanh toán dứt nợ là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á khởi kiện vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với ông Nguyễn Trung P, địa chỉ: Số D, Khu phố C, Đường số A, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, đây là tranh chấp hợp đồng về dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì bị đơn ông Nguyễn Trung P có địa chỉ tại thành phố T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào kết quả xác minh tại Công an phường A, thành phố T cho biết ông Nguyễn Trung P, sinh năm 1966 trước đây có hộ khẩu thường trú tại số D, Khu phố C, Đường số A, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, bỏ địa phương đi đâu không rõ, nhà 46, Đường A hiện nay đã chuyển chủ khác cư ngụ. Tòa án yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ nơi cư trú thực tế của ông P nhưng phía nguyên đơn không cung cấp được vì ông P chuyển đi nơi khác và không thông báo địa chỉ mới cho nguyên đơn biết. Đồng thời, tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, ông P cung cấp địa chỉ thường trú và địa chỉ hiện tại số D, Khu phố C, Đường số A, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai văn bản tố tụng tại địa chỉ số D, Khu phố C, Đường số A, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trụ sở Ủy ban nhân dân phường A và tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do, cụ thể:
- Lần 1: Vào ngày 28/11/2023, niêm yết Thông báo thụ lý vụ án số 1725/2023/TB-TLVA ngày 31/10/2023 và giấy triệu tập đương sự ngày 23/11/2023, triệu tập ông Nguyễn Trung P đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 14/12/2023 để trình bày lời khai và cung cấp tài liệu chứng cứ;
- Lần 2: Vào ngày 04/3/2024, niêm yết Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 762/TB-TA ngày 23/02/2024 và giấy triệu tập đương sự ngày 3/02/2024, triệu tập ông Nguyễn Trung P đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 9 giờ 30 phút ngày 21/03/2024 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải;
- Lần 3: Vào ngày 06/4/2024, niêm yết Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 1694/TB-TA ngày 28/03/2024 và giấy triệu tập đương sự ngày 28/03/2024, triệu tập ông Nguyễn Trung P đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 9 giờ 00 phút ngày 23/4/2024 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải;
- Lần 4: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành niêm yết biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 23/4/2024, giấy triệu tập xét xử ngày 17/6/2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4359/2024/QĐXXST – DS ngày 17/6/2024, yêu cầu ông Nguyễn Trung P có mặt tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, số A, Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 16/7/2024 để nghe xét xử.
- Lần 5: Vào ngày 19/7/20224, niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa số 5481/2024/QĐST-DS ngày 16/7/2024, giấy triệu tập xét xử ngày 16/7/2024 yêu cầu ông Nguyễn Trung P có mặt tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, số A, Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 14/8/2024 để nghe xét xử.
Trong quá trình tiến hành tố tụng, ông Nguyễn Trung P vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Trung P.
[2] Về nội dung vụ án:
Đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Trung P trả cho Ngân hàng TMCP Á số tiền nợ gốc 50.495.824 đồng, lãi quá hạn 46.118.728 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 05/03/2020, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A gửi Ngân hàng TMCP Á, Các văn bản khác của ông Nguyễn Trung P ký với A về việc sử dụng thẻ tín dụng, thể hiện: Ngân hàng TMCP Á đồng ý cấp thẻ tín dụng số thẻ 9704163101029326 cho ông Nguyễn Trung P; hạn mức sử dụng thẻ: 50.000.000 đồng; loại thẻ: Credit Express. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ để xác định: Ngân hàng TMCP Á có cấp cho ông Nguyễn Trung P thẻ tín dụng số 9704163101029326 và ông Nguyễn Trung P có sử dụng thẻ và thực hiện các giao dịch đối với thẻ tín dụng nói trên.
Tại bảng kê tính lãi đối với ông Nguyễn Trung P tính đến ngày 14/8/2024 thể hiện ông Nguyễn Trung P còn nợ Ngân hàng TMCP Á số tiền gốc là 50.495.824 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Á buộc ông Nguyễn Trung P trả số tiền nợ gốc 50.495.824 đồng. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu tiền lãi: Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Căn cứ vào Điều 5 và Điều 10 Bản các điều kiện và điều khoản sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thì toàn bộ số tiền nợ cuối kỳ chuyển sang nợ quá hạn và các bên tự nguyện thỏa thuận về mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn theo lãi suất ngân hàng quy định phù hợp với quy định của pháp luật từng thời điểm. Do đó, Ngân hàng TMCP Á yêu cầu ông P trả số tiền lãi quá hạn tính đến hết ngày 14/8/2024 với số tiền 46.118.728 đồng là có cơ sở. Từ ngày 15/8/2024, tiền lãi sẽ tiếp tục phát sinh trên số tiền nợ quá hạn theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Bản điều khoản điều kiện sử dụng thẻ cho đến khi ông Nguyễn Trung P trả hết nợ. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng TMCP Á được chấp nhận nên ông Nguyễn Trung P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1, Điều 35; điểm a khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 235, điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 116, Điều 117, Điều 357, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ – HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á:
Buộc ông Nguyễn Trung P có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á số tiền tính đến hết ngày 14/8/2024 là 96.614.552 (Chín mươi sáu triệu, sáu trăm mười bốn nghìn, năm trăm năm mươi hai đồng), trong đó gồm: Nợ gốc 50.495.824 đồng, lãi quá hạn 46.118.728 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng số 7920070055670 ngày 05/03/2020; Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP Á cho đến khi thi hành án xong.
Các bên thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Trung P phải chịu án phí sơ thẩm là 4.830.727 đồng (Bốn triệu, tám trăm ba mươi nghìn, bảy trăm hai mươi bảy đồng)
H lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á số tiền tạm ứng án phí là 1.886.920 đồng (Một triệu, tám trăm tám mươi sáu nghìn, chín trăm hai mươi đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0006073 ngày 26/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng TMCP Á có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ông Nguyễn Trung P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Hà Thị Hoài |
Bản án số 3741/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 3741/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng-Nguyễn Trung P
