|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 374/2023/DSPT Ngày: 25 - 8 - 2023 V/v “tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
Các Thẩm phán:
Ông Võ Bảo Anh;
Bà Võ Bích Hải.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 21 và 25 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 203/2021/TLPT- DS ngày 12 tháng 10 năm 2021 về tranh chấp “quyền sử dụng đất".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 37/2021/DS – ST ngày 25 tháng 6 năm 2021 của Toà án nhân dân quận Ô Môn bị các nguyên đơn kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 131/2022/QĐPT-DS ngày 19 tháng 5 năm 2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số 165/2023/TB-TA ngày 24 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn B (Chết)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:
- Bà Bùi Thị Cẩm T, sinh năm 1938; (vắng mặt)
- Bà Huỳnh Mai P, sinh năm 1962; (vắng mặt)
- Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1965; (vắng mặt)
- Bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1967; (vắng mặt)
- Bà Huỳnh Ngọc D, sinh năm 1971; (vắng mặt)
- Ông Huỳnh Minh T1, sinh năm 1973; (vắng mặt)
- Bà Huỳnh Kim T2, sinh năm 1977; (vắng mặt)
- Ông Huỳnh Thanh S, sinh năm 1980; (vắng mặt)
- Ông Huỳnh Văn B1, sinh năm 1969 (chết ngày 17/10/2021)
Cùng địa chỉ: Khu V T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của bà T, bà P, ông Đ, bà D, ông T1, bà T2, ông S:
- Ông Nguyễn Thái T3, sinh năm 1982; (có mặt)
- Bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1989; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số B đường số D, KDC H, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của bà C là ông Nguyễn Thái T3, sinh năm (có mặt)
2. Bị đơn:
- Bà Trương Thị L, sinh năm 1952; địa chỉ: Khu V T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
- Ông Võ Văn H1, sinh năm 1945; địa chỉ: Số A, khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của ông H1 và bà L:
- Ông Lê Tuấn K, sinh năm 1973; (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Huy K1, sinh năm 1987; địa chỉ số A T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Ông Trần Hoàng V, sinh năm 1956; địa chỉ: Số F, đường T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở hiện nay: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân quận Ô, thành phố Cần Thơ; (vắng mặt)
- Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 – Chi nhánh C3; địa chỉ: Số I, đường P, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Thanh T4 – Phó phòng KHDN, ông Nguyễn Tuấn K2.Phó phòng tổng hợp và bà Nguyễn Thị Mai P1 – Cán bộ Phòng tổng hợp Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 – Chi nhánh C3. (Văn bản ủy quyền số 675/UQ-HĐQT-NHCT18 ngày 21/7/2017). (vắng mặt)
- Bà Bùi Thị Cẩm T, sinh năm 1938; (vắng mặt)
- Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1965; (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1969; (vắng mặt)
- Bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1967; (vắng mặt)
- Ông Huỳnh Thanh S, sinh năm 1980; (vắng mặt)
- Ông Ngô Thanh T5, sinh năm 1965; (vắng mặt)
- Bà Huỳnh Mai P, sinh năm 1962; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của: bà T, ông Đ, ông S, bà P là:
- Ông Nguyễn Thái T3, sinh năm 1982; (có mặt)
- Bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1989; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số B đường số D, KDC H, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của Bà X, bà C, ông T5 là ông Nguyễn Thái T3, sinh năm 1982; địa chỉ: Số D Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. (Văn bản ủy quyền ngày 28/11/2017). (có mặt)
- Bà Hồ Thị M, sinh năm 1951; địa chỉ: Số A, khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
- Ông Trương Anh D1, sinh năm 1939; (vắng mặt)
- Ông Trương Thành N, sinh năm 1984; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
4. Người kháng cáo: Bà Bùi Thị Cẩm T là nguyên đơn trong vụ án
NỘI DUNG VỤ ÁN
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Huỳnh Văn B gồm bà Bùi Thị Cẩm T, bà Huỳnh Mai P, ông Huỳnh Văn Đ, bà Huỳnh Ngọc D, ông Huỳnh Minh T1, bà Huỳnh Kim T2, ông Huỳnh Thanh S (cùng ủy quyền cho ông Nguyễn Thái T3) trình bày:
Nguyên vào năm 1930, cha của ông Huỳnh Văn B là ông Huỳnh Văn C1 làm công cho ông Giáo H2 (Nguyễn Nhựt H3), ông H3 cho ông C1 sử dụng diện tích đất 679m² thuộc thửa 115 để cất nhà ở và canh tác. Sau khi ông C1 chết, ông B tiếp tục sử dụng đất. Còn cha mẹ bà Trương Thị L là ông Trương Văn B2 và bà Nguyễn Thị N1 có đến thuê lò gạch của ông H3 vào khoảng năm 1950 để sản xuất gạch. Sau khi ông B2, bà N1 chết, bà L tiếp tục quản lý lò gạch. Đến năm 1991, bà L tự ý kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân huyện Ô (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002678 ngày 15/10/1991 diện tích 6.700m², trong đó bao trùm cả phần đất của gia đình ông B đang sử dụng.
Năm 2004, khi làm thủ tục cấp giấy đất, ông B mới biết việc bà L đã kê khai diện tích đất 679m² (thửa 115) của gia đình ông B nên ông B đã khởi kiện bà L để đòi lại quyền sử dụng đất. Vụ án tranh chấp giữa ông B và bà L đã được Tòa án các cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và cho đến nay vụ việc tranh chấp vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
Nay ông yêu cầu bà Trương Thị L và ông Võ Văn H1 trả cho gia đình ông Huỳnh Văn B quyền sử dụng đất diện tích 526m² thuộc thửa số 115, tờ bản đồ số 02, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00227 do Ủy ban nhân dân quận Ô cấp ngày 24/02/2003 do bà Trương Thị L đứng tên (nay thuộc các thửa 783, 784 và 778 được thể hiện tại Bản Trích đo địa chính số 34/TTKTTNMT ngày
14/5/2018 do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C lập). Cụ thể:
- Đối với thửa đất 783 hiện ông H1 đã xây dựng nhà kiên cố, nguyên đơn yêu cầu ông H1 trả giá trị đất cho nguyên đơn theo mức giá thể hiện tại Biên bản định giá ngày 11/4/2018 là 2.000.000 đồng/m² đất thổ cư và 1.000.000 đồng/m² đất vườn.
- Yêu cầu ông H1 giao trả diện tích đất 237,3m² thuộc thửa 784.
- Yêu cầu công nhận và ổn định cho gia đình ông B toàn bộ diện tích đất 119,1m² thuộc thửa 778 và diện tích đất 237,3m² thửa 784.
- Yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân quận Ô đã cấp gồm:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002678 ngày 15/10/1991; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00227 ngày 24/02/2003; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00349 ngày 19/5/2010 do bà Trương Thị L đứng tên.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00510 ngày 14/7/2010 do ông Trần Hoàng V đứng tên (chỉnh lý sang tên cho ông Võ Văn H1 ngày 07/10/2016).
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00511 ngày 14/7/2010 do ông Võ Văn H1 đứng tên.
Bà Huỳnh Thị C và ông Huỳnh Văn B1 - người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Huỳnh Văn B trình bày:
Cha mẹ của ông, bà là ông Huỳnh Văn B và bà Bùi Thị Cẩm T. Ông B và bà T có tất cả 08 người con gồm: Huỳnh Mai P, Huỳnh Văn Đ, Huỳnh Thị C, Huỳnh Văn B1, Huỳnh Ngọc D, Huỳnh Minh T1, Huỳnh Kim T2 và Huỳnh Thanh S. Trước đây, ông B có khởi kiện bà Trương Thị L, ông Võ Văn H1 và ông Trần Hoàng V về việc tranh chấp phần đất tại khu vực T, phường T, quận Ô. Hiện bà C vẫn còn chung hộ khẩu với ông B nhưng bà C không sinh sống tại đó mà thường xuyên đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh. Còn ông B1 thì trước đây có chung hộ khẩu với ông B nhưng hiện nay đã tách khẩu ra ở riêng. Năm 2019, ông B bị bệnh chết. Nay ông, bà yêu cầu được kế thừa quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của nguyên đơn - ông B trong vụ án nêu trên. Ông, bà thống nhất ý kiến và giữ nguyên các yêu cầu trước đây của ông Huỳnh Văn B (có đại diện ủy quyền là ông Nguyễn Thái T3).
Bị đơn bà Trương Thị L (có đại diện là ông Nguyễn Thanh H4) trình bày:
Phần đất tranh chấp có nguồn gốc là đất gốc của gia đình bà L được nhà nước công nhận. Vào năm 1951, cha mẹ của bà L là ông Trương Văn B2 và bà Nguyễn Thị N1 mua lại lò gạch của ông Đào T6 (G bán lò gạch cho cụ Đào T6), có giấy tờ mua bán lò gạch. Năm 1956, bà B3 (không rõ họ tên) là bà ngoại của ông B được bà Nguyễn Thị N1 cho ở nhờ trên diện tích đất ngang 4m, dài 7m; trong quá trình sử dụng đất, gia đình ông B đã tự ý cơi nới mở rộng ra thêm. Năm 2006, do bà L có tranh chấp với các hộ ở trên đất nên sau khi giải quyết xong, bà L đã tách giấy đất cho các hộ dân đó. Hiện nay, bà L chỉ còn đứng tên diện tích đất 106m² thuộc thửa 778 hiện gia đình ông B đang sử dụng. Tại các
phiên hòa giải, bà L đồng ý giao cho ông B toàn bộ diện tích đất 106m² thuộc thửa 778, tờ bản đồ số 03, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00349 ngày 19/5/2010 (chỉnh lý ngày 06/7/2010), không yêu cầu ông B trả giá trị quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, do gia đình ông B cứ tranh chấp kéo dài nên bà L có yêu cầu phản tố, yêu cầu gia đình ông B giao trả diện tích đất 119,1m² thuộc thửa 778. Bà L không hỗ trợ di dời cho gia đình ông B. Trường hợp gia đình ông B muốn được tiếp tục sử dụng đất thì phải trả giá trị đất theo giá thị trường.
Bị đơn ông Võ Văn H1 (có đại diện là ông Nguyễn Thanh H4) trình bày:
Trước khi ông H1 mua đất của bà L thì trên phần đất này đã có gia đình ông H5 ở trên đất. Năm 1984, gia đình ông H5 chuyển đi nơi khác sinh sống nên mới thỏa thuận sang nhượng đất lại cho ông H1, ông H1 đã trả cho ông H5 một số tiền để nhận đất. Lúc đó, ông H1 đã biết phần đất này thuộc quyền sử dụng của gia đình ông D1, bà L nên sau khi được ông Hương n lại thì ông H1 mới thỏa thuận mua diện tích đất 144m² với bà Trương Thị L (do ông Trương Anh D1 thay mặt bà L trực tiếp bán đất), có làm giấy tay nhưng hiện nay ông H1 không còn giữ giấy mua bán đó và ông H1 cũng không nhớ mua phần đất đó bao nhiêu tiền. Năm 2003, ông D1 có làm thủ tục sang tên giấy đất cho ông H1 nhưng do có một số hộ dân tranh chấp đất với bà L nên nhà nước chưa tách giấy đất cho ông H1 được. Đến năm 2010, sau khi giải quyết tranh chấp xong, bà L đã tách giấy đất cho ông H1 và ông H1 đã được Ủy ban nhân dân quận Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00511 ngày 14/7/2010. Gia đình ông H1 đã cất nhà ở ổn định và liên tục trên phần đất này từ năm 1984, từ trước đến nay không có ai tranh chấp gì cả.
Đối với thửa đất 784, trước đây ông Trần Hoàng V mua của bà L (cũng do ông D1 thay mặt bà L trực tiếp bán đất) diện tích đất 245m² được Ủy ban nhân dân quận Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00510 ngày 14/7/2010. Năm 2016, ông Vũ b lại toàn bộ thửa 784 cho ông H1 nên giấy đất được chỉnh lý lại vào ngày 07/10/2016. Hiện ông H1 đang sử dụng diện tích đất 245m² thửa 784. Ông H1 đã nhận chuyển nhượng đất hợp pháp và đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, ông H1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông H1 yêu cầu được ổn định sử dụng đất như hiện nay.
Bị đơn ông Trần Hoàng V trình bày:
Vào ngày 14/7/2010, bà Trương Thị L có chuyển nhượng cho ông diện tích đất 245m² thuộc thửa 784, loại đất ODT+CLN tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô. Ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00510 cấp ngày 14/7/2010. Đến ngày 17/10/2016, ông đã chuyển nhượng lại cho ông Võ Văn H1 toàn bộ thửa đất 784. Nay ông không đồng ý việc ông Huỳnh Văn B yêu cầu hủy giấy đất số CH00510, bởi vì ông đã được cấp giấy đất đúng theo quy định pháp luật, việc ông mua đất của bà L và bán lại cho ông H1 là hợp pháp. Ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, ông xin vắng mặt tại các phiên hòa giải và xét xử vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Anh D1 trình bày:
Ông là anh ruột của bà Trương Thị L. Trước đây, được bà L ủy quyền nên
ông có trực tiếp bán đất do bà L đứng tên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 002678 cấp ngày 15/10/1991, trong đó ông có bán đất cho ông Trần Hoàng V và ông Võ Văn H1. Việc ông bán đất cho ông H1 đúng như ông H1 trình bày, trước khi ông H1 đến ở thì phần đất đó do gia đình ông H5 sử dụng, ông đã bán đất cho ông H1 từ năm 1984. Đến năm 2010 ông mới bán đất cho ông V. Việc chuyển nhượng đã hoàn tất, ông V và ông H1 đã nhận đất sử dụng ổn định. Nay nguyên đơn yêu cầu hủy giấy đất của ông V, ông H1, ông không đồng ý. Bởi vì, sau khi các bản án trước đây có hiệu lực, bà L đã tách giấy đất cho các hộ tranh chấp, phần đất còn lại thuộc quyền sử dụng của bà L nên bà L bán lại cho người khác là hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trương Thành N trình bày:
Anh là thành viên hộ của bà Trương Thị L. Tuy nhiên, anh không có liên quan gì đến đến phần đất do bà L đứng tên. Đất của bà L thì bà L toàn quyền quyết định, anh không có ý kiến gì. Đồng thời, anh xin được vắng mặt tại tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Ngô Thanh T5, bà Huỳnh Mai P (có đại diện là ông Nguyễn Thái T3) trình bày:
Trước đây, ông T5, bà P có 01 căn nhà cấp 4 ngang 3m x dài 17m nằm trên thửa đất 115 (nay thuộc thửa 784). Ngày 17/7/2007, căn nhà đã bị cơ quan thi hành án cưỡng chế để giao đất cho bà L theo Bản án phúc thẩm số 231/2006/DSPT ngày 22/11/2006. Nay ông T5, bà P không có ý kiến gì, chờ Tòa án giải quyết xong vụ án này để xác định quyền sử dụng phần đất tranh chấp thuộc về ai. Nếu phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của gia đình ông B thì ông T5 và bà P sẽ khởi kiện vụ án khác để yêu cầu bồi thường giá trị căn nhà cho ông T5, bà P.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị M (có đại diện là ông Nguyễn Thanh H4) trình bày:
Bà Hồ Thị M là vợ của ông Võ Văn H1. Ông H4 đại diện cho bà M thống nhất ý kiến với trình bày của bị đơn ông H1. Ngoài ra không có ý kiến gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân quận Ô trình bày:
Ngày 02/11/1991, bà Trương Thị L làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất gồm các thửa 566, diện tích 3.258m² (T); thửa 558, diện tích 2.100m² (CDK); thửa 115, diện tích 679m² (T); thửa 116, diện tích 364m² (T); thửa 118, diện tích 299m² (T), tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc tại ấp T, xã T (cũ) được Hội đồng đăng ký đất đai xã T thống nhất xét duyệt đơn đăng ký, trình tự, thủ tục tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo pháp luật quy định.
Ngày 06/01/2003, bà Trương Thị L chuyển nhượng một phần thửa 566, diện tích 225m², loại đất ODT cho ông Nguyễn Văn K3. Ngày 24/02/2003, bà L được Ủy ban nhân dân huyện Ô (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00227, diện tích 6.475m² gồm các thửa 556 (75m²ODT + 2.958m²CLN), thửa 558 (2.100m²CDK), thửa 115 (300m²ODT + 379m²CLN), thửa 116 (300m²ODT + 64m²CLN) và thửa 118 (299m²ODT), tờ bản đồ số 03. Trình tự thủ tục tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L theo quy định pháp luật, có biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất.
Ngày 20/4/2010, bà Trương Thị L làm đơn đề nghị đăng ký biến động về
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Ngày 19/5/2010, bà L được Ủy ban nhân dân quận Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00349, thửa 778, tờ bản đồ số 03, diện tích 495m² (316,6m²ODT + 178,4m²CLN). Trình tự thủ tục tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L theo quy định pháp luật, có biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất.
Ngày 06/7/2010, bà Trương Thị L tách thửa để chuyển quyền một phần thửa 778, diện tích 144m², loại đất ODT cho ông Võ Văn H1 và chuyển quyền một phần thửa 778, diện tích 172,6m² ODT + 72,4m²CLN cho ông Trần Hoàng V, phần diện tích còn lại 106m² loại đất CLN cấp lại cho bà L ngày 06/7/2010, được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất chỉnh lý biến động giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00349 theo hồ sơ số 000676.
Ngày 21/5/2010, bà Trương Thị L làm hợp đồng chuyển nhượng một phần thửa 778, diện tích 245m² (172,6m² ODT + 72,4m²CLN) cho ông Trần Hoàng V. Ngày 14/7/2010, ông V được Ủy ban nhân dân quận Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00510, thửa 784, diện tích 245m². Trình tự thủ tục tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông V theo quy định pháp luật, có biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất.
Ngày 07/10/2016, ông Trần Hoàng Vũ 1 hợp đồng chuyển nhượng cho ông Võ Văn H1 hết diện tích 245m² (172,6m² ODT + 72,4m²CLN) được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất chỉnh lý biến động giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00510 theo hồ sơ số 000676.CN.002.
Ngày 23/4/2003, ông Võ Văn H1 nhận chuyển nhượng một phần thửa 115, diện tích 144m², loại đất ODT. Ngày 14/7/2010, ông H1 được Ủy ban nhân dân quận Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00511, thửa 783, diện tích 144m². Trình tự thủ tục tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H1 theo quy định pháp luật, có biên bản thẩm tra xác minh, mô tả thửa đất.
Đối với việc nguyên đơn yêu cầu hủy các giấy đất đã cấp cho bà L, ông H1 và ông V thì đề nghị Tòa án căn cứ hồ sơ của đương sự đã cung cấp, hồ sơ trích lục của Chi nhánh Văn phòng Đ1 cung cấp để xem xét giải quyết theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 – Chi nhánh C3 (do bà Nguyễn Thị Mai P1 đại diện) trình bày:
Ngày 05/12/2016, ông Võ Văn H1 và bà Hồ Thị M có ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 16.078.080/AT/HĐTC với Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 – Chi nhánh C3 – Phòng G (sau đây viết tắt là Ngân hàng). Theo đó, ông H1 và bà M thế chấp cho Ngân hàng các tài sản để đảm bảo cho Hợp đồng tín dụng số 16.078.080/AT/2016-HĐTD/NHCT820 ngày 06/12/2016 giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Vĩnh H6 và bà Phạm Thị Thùy L1. Các tài sản thế chấp bao gồm:
- Quyền sử dụng diện tích đất 71,6m² (Đất ở tại đô thị) thuộc thửa 356, tờ bản đồ số 29, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02228 do Ủy ban nhân dân quận N cấp ngày 14/7/2015 do ông Võ Văn H1 đứng tên;
- Quyền sử dụng diện tích đất 245m² (Đất ở tại đô thị và đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa 784, tờ bản đồ số 03, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00510 do Ủy ban nhân dân quận Ô cấp ngày 14/7/2010 (chỉnh lý chuyển
nhượng ngày 07/10/2016) do ông Võ Văn H1 đứng tên;
- Quyền sử dụng diện tích đất 144m² (Đất ở tại đô thị) thuộc thửa 783, tờ bản đồ số 03, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00511 do Ủy ban nhân dân quận Ô cấp ngày 14/7/2010 do ông Võ Văn H1 đứng tên.
Hiện nay, ông Nguyễn Vĩnh H6 và bà Phạm Thị Thùy L1 thực hiện đầy đủ và đúng hạn các thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng. Do khoản vay chưa đến hạn và ông H6, bà L1 không vi phạm nghĩa vụ nên hiện nay Ngân hàng chưa có yêu cầu đối với khoản vay này.
Tuy nhiên, trong số các tài sản bảo đảm có 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00510 và số CH00511 đang bị tranh chấp và nguyên đơn có yêu cầu hủy giấy đất. Ngân hàng không đồng ý hủy 02 giấy đất này bởi vì việc ông H1 thế chấp các tài sản trên được thực hiện đúng quy định pháp luật, đồng thời việc hủy các giấy đất này sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 37 ngày 25/6/2021 Tòa án nhân dân quận Ô Môn đã tuyên xử
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn B đối với bị đơn bà Trương Thị L.
1.1/ Công nhận quyền sử dụng đất cho người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Huỳnh Văn B gồm bà Bùi Thị Cẩm T, bà Huỳnh Mai P, ông Huỳnh Văn Đ, bà Huỳnh Ngọc D, ông Huỳnh Minh T1, bà Huỳnh Kim T2, ông Huỳnh Thanh S, bà Huỳnh Thị C và ông Huỳnh Văn B1 đối với diện tích đất 106m² (đất trồng cây lâu năm) tại thửa 778, tờ bản đồ số 03. (diện tích đất đo đạc thực tế thửa 778 là 119,1m² trong đó có 32,8m² trong HLATGT)
1.2/ Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Huỳnh Văn B gồm bà Bùi Thị Cẩm T, bà Huỳnh Mai P, ông Huỳnh Văn Đ, bà Huỳnh Ngọc D, ông Huỳnh Minh T1, bà Huỳnh Kim T2, ông Huỳnh Thanh S, bà Huỳnh Thị C và ông Huỳnh Văn B1 được tiếp tục sử dụng diện tích đất 119,1m² (CLN) tại thửa 778 và được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, xác lập quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nêu trên theo Bản Trích đo địa chính số 34/TTKTTNMT ngày 14/5/2018 của Trung tâm K – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C theo quy định.
Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận Ô thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00349 do Ủy ban nhân dân quận Ô cấp ngày 19/5/2010 (chỉnh lý ngày 06/7/2010) do hộ bà Trương Thị L đứng tên đối với thửa đất số 778 để cấp lại quyền sử dụng đất cho bà Bùi Thị Cẩm T, bà Huỳnh Mai P, ông Huỳnh Văn Đ, bà Huỳnh Ngọc D, ông Huỳnh Minh T1, bà Huỳnh Kim T2, ông Huỳnh Thanh S, bà Huỳnh Thị C và ông Huỳnh Văn B1.
2/ Bác một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: Yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất tại các thửa 783 và 784; Buộc ông H1 trả giá trị thửa đất 783; Buộc ông H1 di dời tài sản trên đất để giao trả thửa đất 784.
2.1/ Ông Võ Văn H1 được ổn định sử dụng diện tích đất 169,6m² (ODT+CLN) tại thửa 783, tờ bản đồ số 03, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00511 do Ủy ban nhân dân quận Ô cấp ngày 14/7/2010 do ông Võ Văn H1 đứng tên và diện tích đất 237,3m² (ODT+CLN) tại thửa 784, tờ bản đồ số 03,
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00510 do Ủy ban nhân dân quận Ô cấp ngày 14/7/2010 do ông Trần Hoàng V đứng tên (chỉnh lý sang tên ông Võ Văn H1 ngày 07/10/2016).
Ông Võ Văn H1 được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để xin đăng ký, điều chỉnh quyền sử dụng đất tại các thửa đất 783 và 784 theo Bản Trích đo địa chính số 34/TTKTTNMT ngày 14/5/2018 của Trung tâm K – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C theo quy định.
2.2 Buộc bị đơn bà Trương Thị L trả cho người kế thừa của nguyên đơn ông Huỳnh Văn B gồm bà Bùi Thị Cẩm T, bà Huỳnh Mai P, ông Huỳnh Văn Đ, bà Huỳnh Ngọc D, ông Huỳnh Minh T1, bà Huỳnh Kim T2, ông Huỳnh Thanh S, bà Huỳnh Thị C và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Huỳnh Văn B1 số tiền 409.900.000 đồng (Bốn trăm lẻ chín triệu, chín trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả thì phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Bác một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002678 do Ủy ban nhân dân huyện Ô (cũ) cấp ngày 15/10/1991 do hộ bà Trương Thị L đứng tên.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00227 do Ủy ban nhân dân quận Ô cấp ngày 24/02/2003 do hộ bà Trương Thị L đứng tên.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00511 do Ủy ban nhân dân quận Ô cấp ngày 14/7/2010 do ông Võ Văn H1 đứng tên.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00510 do Ủy ban nhân dân quận Ô cấp ngày 14/7/2010 do ông Trần Hoàng V đứng tên (chỉnh lý sang tên ông Võ Văn H1 ngày 07/10/2016).
4. Bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trương Thị L về việc buộc nguyên đơn giao trả diện tích đất 119,1m² thuộc thửa 778.
(Đất tranh chấp tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ).
5. Về chi phí thẩm định và định giá tài sản:
Nguyên đơn đã nộp số tiền 3.943.287 đồng (Ba triệu chín trăm bốn mươi ba nghìn, hai trăm tám mươi bảy đồng), đã chỉ hết. Bà Trương Thị L phải trả lại cho bà Bùi Thị Cẩm T, bà Huỳnh Mai P, ông Huỳnh Văn Đ, bà Huỳnh Ngọc D, ông Huỳnh Minh T1, bà Huỳnh Kim T2, ông Huỳnh Thanh S, bà Huỳnh Thị C và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Huỳnh Văn B1 số tiền 1.972.000 đồng (Một triệu, chín trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
Bị đơn ông Võ Văn H1 đã nộp số tiền 5.087.000 đồng (Năm triệu không trăm tám mươi bảy nghìn đồng). Đã chi hết. Ông H1 tự chịu chi phí này.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trương Thị L được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Bùi Thị Cẩm T, bà Huỳnh Mai P, ông Huỳnh Văn Đ, bà Huỳnh Ngọc D, ông Huỳnh Minh T1, bà Huỳnh Kim T2, ông Huỳnh Thanh S, bà Huỳnh Thị C và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Huỳnh Văn B1 phải nộp số tiền 200.000 đồng. Chuyển số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 001009 ngày 13/02/2015 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ thành án phí.
7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Bùi Thị Cẩm T được miễn theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Loan |
Bản án số 374/2023/DSPT ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 374/2023/DSPT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bé - Lan - T/c QSD đất
