|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 374/2024/DSST
Ngày: 31/10/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trinh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Dung
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Liên
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều: Bà Nguyễn Thị Thùy Ngân – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 340/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 831/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam
Địa chỉ: Số 22, Ngô Quyền, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ liên hệ: Lầu 2, số 264E, Lê Văn Sỹ, phường 14, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Phương Khánh sinh năm 1992 (có mặt)
Địa chỉ: Lầu 6, số 131, Trần Hưng Đạo, phường An Phú, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
(Văn bản ủy quyền ngày 06/5/2024)
Bị đơn: Ông Trần Vũ Linh sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: B-14, đường 4B, khu dân cư Nam Long, lô 8C, khu vực 2, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Bà Nguyễn Thị Yến Nhi sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 5, ấp Mỹ Khánh 2, xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, An Giang.
Địa chỉ liên hệ: B-14, đường 4B, khu dân cư Nam Long, lô 8C, khu vực 2, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam và ông Trần Vũ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi ký hợp đồng tín dụng số 427/2022/HĐTD/PVB-CNCTO ngày 24/8/2022 và khế ước nhận nợ. Số tiền vay 7.140.000.000 đồng, mục đích vay hoàn vốn mua bất động sản, thời hạn vay 300 tháng, lãi suất trong hạn áp dụng tại thời điểm giải ngân được ghi nhận tại mỗi khế ước nhận nợ, điều chỉnh lãi suất theo bản điều khoản và điều kiện cấp tín dụng, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả lãi 10%/năm.
Căn cứ giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ông Trần Vủ Linh ngày 17/10/2022. Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Trần Vũ Linh, loại thẻ VISA, hạn mức thẻ 100.000.000 đồng, lãi suất, phí theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Để đảm bảo cho khoản vay, ông Trần Vũ Linh, bà Nguyễn Thị Yến Nhi và Ngân hàng ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 427/2022/HĐBĐ/PVB-CNCTO ngày 24/8/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thanh Đình và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận Cái Răng. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1927, tờ bản đồ số 7, diện tích 200m², mục đích sử dụng: Đất ở đô thị, tọa lạc tại khu dân cư lô 8C, khu đô thị Nam Cần Thơ, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU661159 (số vào sổ cấp GCN CS09440) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ cấp ngày 02/6/2020, cập nhật chuyển nhượng cho ông Trần Vủ Linh ngày 23/4/2021.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Trần Vủ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ. Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, làm việc trực tiếp yêu cầu ông Linh, bà Nhi trả nợ nhưng ông bà không thực hiện yêu cầu, kéo dài thời gian và trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.
Tính đến ngày 31/10/2024, ông Trần Vũ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 8.457.823.070 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 6.925.682.914 đồng. Nợ lãi trong hạn là 1.371.483.802 đồng. Nợ lãi quá hạn là 61.733.508 đồng. Lãi chậm trả là 98.922.845 đồng. Ông Trần Vủ Linh còn nợ Ngân hàng khoản vay thẻ tín dụng là 164.056.474 đồng.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Trần Vủ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi phải trả tổng số tiền tính đến ngày 31/10/2024 là 8.457.823.070 đồng. (Trong đó, nợ gốc là 6.925.682.914 đồng, nợ lãi 1.532.140.156 đồng). Ông Trần Vủ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi phải tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 01/11/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Trần Vũ Linh phải trả tổng số tiền của khoản vay thẻ tín dụng tính đến ngày 31/10/2024 là 164.056.474 đồng. Ông Trần Vủ Linh phải tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 01/11/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ.
Trường hợp ông Trần Vủ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để ngân hàng thu hồi nợ theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 427/2022/HĐBĐ/PVB-CNCTO ngày 24/8/2022.
Bị đơn ông Trần Vũ Linh trình bày:
Ông và vợ là bà Nguyễn Thị Yến Nhi có ký hợp đồng tín dụng số 427/2022/HĐTD/PVB-CNCTO ngày 24/8/2022 với Ngân hàng, số tiền vay 7.140.000.000 đồng và có thế chấp tài sản là thửa đất số 1927, tờ bản đồ số 7, diện tích 200m² theo hợp đồng thế chấp số 427/2022/HĐBĐ/PVB-CNCTO ngày 24/8/2022. Phương thức trả gốc và lãi hàng tháng, đến tháng 5 năm 2023 do kinh tế khó khăn ông đã ngưng trả cho Ngân hàng đến nay. Ông đồng ý khoản nợ gốc và lãi ngân hàng trình bày. Phương thức trả nợ: Ông đồng ý trả số nợ cho Ngân hàng. Tuy nhiên, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, ông sẽ cố gắng trả 10.000.000 đồng/tháng và cố gắng bán được nhà đất tại thửa đất số 1927 để tất toán cho Ngân hàng. Ông đề nghị Ngân hàng cho ông thời gian 18 tháng để ông bán tài sản là thửa đất số 1927 để trả nợ Ngân hàng.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
+ Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.
+ Về nội dung giải quyết vụ án: Ngày 24/8/2022, ngân hàng với ông Linh và bà Nhi ký hợp đồng tín dụng 427/2022/HĐTD/PVB-CNCTO, ngân hàng đã giải ngân cho ông Linh, bà Nhi theo các khế ước nhận nợ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Linh, bà Nhi vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Linh, bà Nhi trả cho ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 31/10/2024 là 8.457.823.070 đồng. (Trong đó, nợ gốc 6.925.682.914 đồng, nợ lãi trong hạn 1.371.483.802 đồng, lãi quá hạn 61.733.508 đồng, lãi chậm trả 98.922.845 đồng) và lãi phát sinh từ ngày 01/11/2024 cho đến khi tất nợ theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng là có cơ sở chấp nhận.
Đảm bảo cho các khoản vay, ông Linh, bà Nhi thế chấp tài sản theo hợp đồng thế chấp số 427/2022/HĐBĐ/PVB-CNCTO ngày 24/8/2022. Hợp đồng thế chấp được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Trường hợp ông Linh, bà Nhi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí thẩm định theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Xét về thủ tục tố tụng:
- - Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam và bị đơn ông Trần Vủ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi ký kết hợp đồng tín dụng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về vắng mặt người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét về nội dung:
[2.1] Về yêu cầu thanh toán nợ gốc và lãi của Ngân hàng:
[2.1.1] Đối với hợp đồng tín dụng
Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đủ cơ sở xác định giữa Ngân hàng với ông Trần Vủ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi có ký hợp đồng tín dụng 427/2022/HĐTD/PVB-CNCTO và khế ước nhận nợ cùng ngày 24/8/2022. Ngân hàng đã giải ngân cho ông Trần Vủ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi số tiền 7.140.000.000 đồng. Thời hạn vay 300 tháng kể từ ngày bên vay rút vốn lần đầu ngày 24/8/2022. Lãi suất vay trong hạn cố định 11,6%/năm tính từ ngày 24/8/2022 đến 23/11/2022. Từ ngày 24/11/2022 đến hết thời hạn vay lãi suất vay = LSCS + 3,5%/năm, điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn. Lãi suất chậm trả lãi 10%/năm. Mục đích vay hoàn vốn mua bất động sản.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn ông Linh và bà Nhi vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Vũ Linh thừa nhận ông và vợ là bà Nguyễn Thị Yến Nhi có ký kết hợp đồng tín dụng, nhận tiền giải ngân của Ngân hàng theo đúng nội dung khế ước nhận nợ. Ông Linh thống nhất số tiền nợ gốc và lãi còn nợ Ngân hàng và đồng ý trả nợ Ngân hàng. Ông bà chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng do kinh tế khó khăn nên từ tháng 5 năm 2023 ông đã ngưng trả nợ cho Ngân hàng đến nay. Phương án trả nợ của ông Linh sẽ trả 10.000.000 đồng/tháng và cố gắng bán được nhà đất tại thửa đất số 1927 để tất toán cho Ngân hàng. Ông Linh đề nghị Ngân hàng cho ông Linh thời gian 18 tháng để ông bán tài sản là thửa đất số 1927 để trả nợ Ngân hàng. Tuy nhiên, Ngân hàng không thống nhất đề nghị và phương án trả nợ của phía bị đơn ông Linh. Bà Nhi được Tòa án cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không thể hiện ý kiến của mình, không cung cấp các chứng cứ có liên quan để bảo vệ quyền lợi cho mình. Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ ông Linh và bà Nhi còn thiếu Ngân hàng sang nợ quá hạn đối với khoản vay đúng theo thỏa thuận hợp đồng và đúng quy định pháp luật.
Đối với yêu cầu lãi suất: Theo hợp đồng tín dụng thể hiện mức lãi suất các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm giao kết hợp đồng nên ngân hàng yêu cầu ông Linh và bà Nhi thực hiện nghĩa vụ trả lãi là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/1/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tính đến ngày 31/10/2024, ông Linh và bà Nhi còn nợ Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi là 8.457.823.070 đồng. Trong đó: Nợ gốc 6.925.682.914 đồng, nợ lãi trong hạn 1.371.483.802 đồng, lãi quá hạn 61.733.508 đồng, lãi chậm trả 98.922.845 đồng.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Linh và bà Nhi phải trả tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 31/10/2024 là 8.457.823.070 đồng (Trong đó bao gồm: Nợ gốc 6.925.682.914 đồng, nợ lãi trong hạn là 1.371.483.802 đồng, lãi quá hạn là 61.733.508 đồng, lãi chậm trả là 98.922.845 đồng). Bị đơn phải tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 01/11/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ là đúng quy định khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[1.2.2] Đối với thẻ tín dụng
Căn cứ giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ông Trần Vủ Linh ngày 17/10/2022. Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Trần Vũ Linh, loại thẻ VISA, hạn mức thẻ 100.000.000 đồng, lãi suất, phí theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Ngân hàng tính lãi, phí theo thỏa thuận trong giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và biểu phí, tính lãi theo quy định của Ngân hàng. Trong nội dung tự khai ông Linh cũng thừa nhận sử dụng thẻ tín dụng, thực hiện giao dịch tín dụng đối với thẻ tín dụng được cấp nên cần buộc ông Linh có nghĩa vụ trả lãi, phí theo quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.
Tính đến ngày 31/10/2024, ông Linh còn nợ Ngân hàng tổng số tiền gốc, lãi và phí là 164.056.474 đồng nên cần buộc ông Trần Vủ Linh có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền 164.056.474 đồng và lãi phát sinh tính từ ngày 01/11/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận của giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ theo quy định tại khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
[2.2] Đối với hợp đồng thế chấp và yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ của ngân hàng:
Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng, ông Linh và bà Nhi và Ngân hàng ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 427/2022/HĐBĐ/PVB-CNCTO ngày 24/8/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thanh Đình. Hợp đồng được công chứng theo quy định khoản 2 Điều 119 và Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015 và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận Cái Răng đúng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 nên về hình thức là hợp pháp.
Xét nội dung hợp đồng thế chấp: Bị đơn ông Linh xác nhận toàn bộ tài sản thế chấp là của ông Linh và bà Nhi. Ông Linh và bà Nhi có thế chấp tài sản đảm bảo cho các hợp đồng tín dụng ký kết với Ngân hàng. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1927, tờ bản đồ số 7, diện tích 200m², mục đích sử dụng: Đất ở đô thị, tọa lạc tại khu dân cư lô 8C, khu đô thị Nam Cần Thơ, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU661159 (số vào sổ cấp GCN CS09440) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ cấp ngày 02/6/2020, cập nhật chuyển nhượng cho ông Trần Vũ Linh ngày 23/4/2021. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập bà Nguyễn Thị Yến Nhi nhưng không đến tham dự, không gửi văn bản nêu ý kiến cho Tòa án.
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã được xác định theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/7/2024 đều thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Trần Vủ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi như sau: Diện tích đúng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ông Trần Vủ Linh được cấp. Về tài sản trên đất có 01 căn nhà, công trình phụ có cổng rào và hàng rào đều thuộc quyền sở hữu của ông Trần Vũ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi.
Vì vậy, trường hợp ông Trần Vũ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền gốc và lãi của hợp đồng tín dụng thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông Trần Vủ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi để thu hồi nợ là đúng thỏa thuận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 427/2022/HĐBĐ/PVB-CNCTO ngày 24/8/2022. Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Bị đơn ông Trần Vũ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi xong. Bị đơn ông Trần Vũ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Trần Vủ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi phải chịu án phí có giá ngạch là 116.622.000 đồng (Một trăm mười sáu triệu, sáu trăm hai mươi hai nghìn đồng).
Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 58.015.000 đồng (Năm mươi tám triệu, không trăm mười lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001293 ngày 13/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
[5] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 3 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 325, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam.
1.1. Buộc bị đơn ông Trần Vũ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 31/10/2024 là 8.457.823.070 đồng (Trong đó, nợ gốc 6.925.682.914 đồng, nợ lãi 1.532.140.156 đồng). Bị đơn phải tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 01/11/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ.
1.2. Buộc bị đơn ông Trần Vũ Linh có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam tổng số tiền nợ thẻ tín dụng tạm tính đến ngày 31/10/2024 là 164.056.474 đồng và tiếp tục chịu lãi phát sinh kể từ ngày 01/11/2024 theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán hết nợ.
1.3 Trường hợp ông Trần Vũ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số nợ nêu trên, thì Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 427/2022/HĐBĐ/PVB-CNCTO ngày 24/8/2022 để thu hồi nợ là:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1927, tờ bản đồ số 7, diện tích 200m², mục đích sử dụng: Đất ở đô thị, tọa lạc tại khu dân cư lô 8C, khu đô thị Nam Cần Thơ, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU661159 (số vào sổ cấp GCN CS09440) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ cấp ngày 02/6/2020, cập nhật chuyển nhượng cho ông Trần Vủ Linh ngày 23/4/2021.
2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Bị đơn ông Trần Vũ Linh, bà Nguyễn Thị Yến Nhi phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi xong. Bị đơn ông Trần Vũ Linh, bà Nguyễn Thị Yến Nhi có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Trần Vủ Linh và bà Nguyễn Thị Yến Nhi phải chịu án phí có giá ngạch là 116.622.000 đồng (Một trăm mười sáu triệu, sáu trăm hai mươi hai nghìn đồng).
Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 58.015.000 đồng (Năm mươi tám triệu, không trăm mười lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001293 ngày 13/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
4. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Trinh |
Bản án số 374/2024/DSST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 374/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
