Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 374/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/9/2024.

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoàn

Bà Nguyễn Thị Tuyết

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 355/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 450/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 306/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1997,

Nơi ĐKHKTT: Thôn Q, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn K, sinh năm 1991,

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Q, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Đài Loan.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1959, địa chỉ: Thôn Q, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương.

Chị H, anh K, bà Đ đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai chị Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn K tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương vào ngày 04/11/2014 và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau ngày cưới, chị chuyển về chung sống cùng gia đình anh K, vợ chồng chung sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì. Đến năm 2020, để cải thiện kinh tế gia đình, anh K và chị lần lượt đi lao động ở Đài Loan nhưng không làm việc cùng nhau. Vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Đầu năm 2024, chị về Việt Nam nhưng không về nhà anh K sinh sống mà về ở nhà bố mẹ đẻ. Tháng 7/2024, anh K có về Việt Nam một thời gian nhưng không về chung sống cùng chị, sau đó lại tiếp tục quay lại Đài Loan làm việc. Chị xác định sẽ sinh sống ổn định ở Việt Nam và không sang Đài Loan làm việc nữa. Do tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mâu thuẫn ngày một trầm trọng đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh K.

- Về con chung: Chị và anh K có 02 con chung là Phạm Văn Q, sinh ngày 28/4/2015 và Phạm Văn H1, sinh ngày 14/01/2019. Hiện nay, cháu Q đang ở cùng gia đình anh K, cháu H1 đang ở cùng chị. Khi ly hôn, chị có quan điểm đề nghị được nuôi dưỡng cháu H1, anh K nuôi dưỡng cháu Q, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cho nhau. Trong thời gian anh K ở nước ngoài, anh K nhờ mẹ đẻ là bà Phạm Thị Đ chăm sóc cháu Q cho đến khi anh K về nước, chị nhất trí.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Anh Nguyễn Văn K1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị H kết hôn vào ngày 04/11/2014 như chị H trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng ở cùng bố mẹ anh, vợ chồng sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì. Năm 2020, anh sang Đài Loan làm việc. Năm 2021, chị H sang Đài Loan làm việc cùng với anh. Vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn tại Đài Loan do chị H có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, anh đã bắt gặp nên vợ chồng xảy ra cãi vã và không còn liên lạc, quan tâm đến nhau. Đầu năm 2024 chị H đã về Việt Nam và đã sinh sống với người đàn ông khác mặc dù anh chị vẫn là vợ chồng hợp pháp. Nay chị H có đơn xin ly hôn, quan điểm của anh là nhất trí theo yêu cầu của chị H.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Văn Q, sinh ngày 28/4/2015 và Phạm Văn H1, sinh ngày 14/01/2019. Hiện nay, cháu Q đang ở cùng gia đình anh, cháu H1 đang ở cùng chị H. Ly hôn, anh đề nghị được nuôi dưỡng cháu Q, chị H nuôi dưỡng cháu H1, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cho nhau. Ngày 14/7/2024 anh phải quay lại Đài Loan để tiếp tục công việc nên anh nhờ mẹ đẻ anh là bà Phạm Thị Đ chăm sóc cháu Q cho đến khi anh về nước.

- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung; Vợ chồng có khoản nợ 300.000.000 đồng, anh đề nghị mỗi người phải chịu 150.000.000 đồng nhưng anh chưa có đơn và tài liệu kèm theo gửi cho Tòa án.

Các văn bản tố tụng Tòa án giao cho anh, anh đề nghị giao cho bà Phạm Thị Đ, bà Đ sẽ thông báo và giao lại cho anh.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Đ (mẹ đẻ anh Phạm Văn K) trình bày: Bà nhất trí nhận thay các văn bản tố tụng mà Tòa án giao cho anh K, bà sẽ có có trách nhiệm thông báo và giao lại cho anh K. Anh K nhờ bà chăm sóc cháu Phạm Văn Q, sinh ngày 28/4/2015 cho đến khi anh K về nước, bà nhất trí.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị H đề nghị được vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn anh K vắng mặt tại phiên tòa không có lý do; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đ có quan điểm xin vắng mặt.

* Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Phạm Văn K; Giao cho anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phạm Văn Q, sinh ngày 28/4/2015, giao cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phạm Văn H1, sinh ngày 14/01/2019 cho đến khi con chung trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của hai bên không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm giao cháu Q cho bà Phạm Thị Đ chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh K không ở Việt Nam; Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị với anh Phạm Văn K. Anh K hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Tại phiên tòa chị H, bà Đ đều có quan điểm xin xét xử vắng mặt, anh K vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H, anh K và bà Đ.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn K được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương vào ngày 04/11/2014 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 anh K và chị H lần lượt đi lao động ở Đài Loan. Vợ chồng làm việc tại Đài Loan nảy sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng nghi ngờ nhau về tình cảm vợ chồng, không có sự tin tưởng nhau, vợ chồng đã sống ly thân, không có sự quan tâm trong cuộc sống. Nay chị H đã về Việt Nam sinh sống ổn định từ đầu năm 2024 và có đơn xin ly hôn, trong quá trình giải quyết vụ án anh K về Việt Nam và có quan điểm nhất trí ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị H, anh K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị H được ly hôn anh K là phù hợp.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị H và K có 02 con chung là Phạm Văn Q, sinh ngày 28/4/2015 và Phạm Văn H1, sinh ngày 14/01/2019. Hiện nay cháu Q đang ở cùng gia đình anh K và có nguyện vọng được ở cùng bố, cháu H1 đang ở cùng chị H. Ly hôn vợ chồng thống nhất để anh K được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Văn Q, chị H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Văn H1, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cho nhau. Trong thời gian anh K không có mặt tại Việt Nam, anh K nhờ mẹ đẻ là bà Phạm Thị Đ chăm sóc cháu Q, bà Đ và chị H đều nhất trí. Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn K được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết tài sản. Anh K trình bày vợ chồng có khoản nợ là 300.000.000 đồng nhưng anh K không có đơn và tài liệu kèm theo đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Trường hợp chị H, anh K có yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

[3]. Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Phạm Văn K.
  2. Về con chung: Giao cho anh Phạm Văn K tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phạm Văn Q, sinh ngày 28/4/2015; Giao cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phạm Văn H1, sinh ngày 14/01/2019; Thời gian tính từ tháng 9/2024 cho đến khi các con chung trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.

    Tạm giao cháu Phạm Văn Q cho bà Phạm Thị Đ chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh K không có mặt tại Việt Nam.

    Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000826 ngày 02/7/2024 (chị H đã nộp đủ án phí).
  4. Về quyền kháng cáo: Chị H, bà Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Việt Hồng, huyện Thanh Hà (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HC, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mai Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 374/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 374/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H xin ly hôn Phạm Văn K và tranh chấp nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger