|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 374/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11-12-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Phúc
Bà Nguyễn Thị Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Phương Trúc – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 238/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21202/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Mỹ Tố N, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số A đường N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh N1, sinh năm 1990; Địa chỉ: Số A đường N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ hiện nay: Số A đường T, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 7 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Trần Mỹ Tố N đều trình bày:
Bà và ông Huỳnh Thanh N1 tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45, quyển số 01/2014 ngày 14 tháng 3 năm 2014. Đầu năm 2022, ông, bà nảy sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng ý kiến về mọi vấn đề từ việc nuôi dạy con, quản lý tài chính gia đình, cách đối xử với gia đình hai bên (quan hệ giữa ông Huỳnh Thanh N1 và những người thân trong gia đình bà không còn hoà thuận như trước), vợ chồng sống ly thân từ tháng 6 năm 2023 đến nay. Rất nhiều lần bà yêu cầu ông Huỳnh Thanh N1 ngồi lại tìm phương cách hàn gắn lại hạnh phúc gia đình nhưng đều không thành công, ông Huỳnh Thanh N1 không hợp tác. Nay, nhận thấy mọi cố gắng đều vô ích, cuộc sống chung của vợ chồng thực tế không còn, tình nghĩa vợ chồng đã rạn nứt khó hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Thanh N1.
Về con chung: Ông, bà có một con chung là Huỳnh Hạo N2, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2015 hiện đang sống cùng bà nên bà yêu cầu giao con chung là Huỳnh Hạo N2, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2015 cho bà trực tiếp nuôi. Bà không yêu cầu ông Huỳnh Thanh N1 cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn là ông Huỳnh Thanh N1 trình bày tại Bản khai đề ngày 29 tháng 10 năm 2024: Ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Mỹ Tố N. Ông và bà Trần Mỹ Tố N sống ly thân đã lâu vì không thống nhất được với nhau về mọi mặt trong đời sống: tiền bạc, nuôi dạy con cái... Ông sống chung gia đình vợ xảy ra nhiều mâu thuẫn, căng thẳng, không hoà giải được. Cuộc sống chung của ông, bà thực tế không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay, bà Trần Mỹ Tố N muốn ly hôn thì ông đồng ý ly hôn với bà Trần Mỹ Tố N và đồng ý giao con chung là Huỳnh Hạo N2, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2015 cho bà Trần Mỹ Tố N trực tiếp nuôi. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Trần Mỹ Tố N và ông Huỳnh Thanh N1 vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Mỹ Tố N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Mỹ Tố N khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Huỳnh Thanh N1 cư trú tại Số A đường N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Bà Trần Mỹ Tố N và ông Huỳnh Thanh N1 vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.
[4] Về nội dung: Bà Trần Mỹ Tố N và ông Huỳnh Thanh N1 tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45, quyển số 01/2014 ngày 14 tháng 3 năm 2014 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
[5] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hoà giải nhằm tạo điều kiện cho vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ nhưng ông Huỳnh Thanh N1 vắng mặt, còn bà Trần Mỹ Tố N có Đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải đề ngày 16 tháng 7 năm 2024, thể hiện bà Trần Mỹ T Như không có thiện chí muốn hàn gắn và đoàn tụ.
[6] Theo Văn bản số 976/UBND-TP ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Ủy ban nhân dân Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Trần Mỹ Tố N và ông Huỳnh Thanh N1 có hộ khẩu thường trú tại Số A đường N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại địa phương; Trên hệ thống Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư có thông tin nơi ở hiện tại là tại Số A đường T, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Đối với những nội dung khác Ủy ban nhân dân phường không có thông tin.
[7] Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà Trần Mỹ Tố N và ông Huỳnh Thanh N1 ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Trần Mỹ Tố N được ly hôn với ông Huỳnh Thanh N1 quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[8] Về con chung: Bà Trần Mỹ Tố N và ông Huỳnh Thanh N1 đều thống nhất giao con chung là Huỳnh Hạo N2, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2015 cho bà Trần Mỹ Tố N trực tiếp nuôi. Theo Bản tự khai đề ngày 26 tháng 11 năm 2024 thì trẻ Huỳnh Hạo N2 khai hiện tại đang ở với mẹ và quyết định sống chung với mẹ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, sau khi xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, nguyện vọng của bà Trần Mỹ Tố N và ông Huỳnh Thanh N1, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung chưa thành niên là Huỳnh Hạo N2, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2015 cho bà Trần Mỹ Tố N trực tiếp nuôi.
[9] Bà Trần Mỹ T Như không yêu cầu ông Huỳnh Thanh N1 cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Mỹ Tố N.
[10] Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì quyền lợi của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi mức cấp dưỡng hoặc người trực tiếp nuôi con.
[11] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Mỹ Tố N và ông Huỳnh Thanh N1 khai về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung không có. Căn cứ khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao - Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản; Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định. Do các bên đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, bà Trần Mỹ Tố N và ông Huỳnh Thanh N1 có quyền tự thỏa thuận với nhau về việc phân chia tài sản, trường hợp không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
[12] Về án phí: Bà Trần Mỹ Tố N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[13] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, các điều 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Mỹ Tố N
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Mỹ Tố N được ly hôn với ông Huỳnh Thanh N1.
Về con chung: Giao con chung là Huỳnh Hạo N2, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2015 cho bà Trần Mỹ Tố N trực tiếp nuôi. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Mỹ T Như không yêu cầu ông Huỳnh Thanh N1 cấp dưỡng cho con.
Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì quyền lợi của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi mức cấp dưỡng hoặc người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Trần Mỹ Tố N và ông Huỳnh Thanh N1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Trần Mỹ Tố N và ông Huỳnh Thanh N1 khai không có.
- Về án phí: Bà Trần Mỹ Tố N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0043886 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Mỹ Tố N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Minh |
5
Bản án số 374/2024/HNGĐ-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 374/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
