|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 374/2024/HS-ST
Ngày: 08/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP . HCM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Đỗ Thị Thu Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Lê Văn Lý;
- 2/ Bà Bùi Thị Phụng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 219/2024/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 400/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Thị Cẩm U; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1997; Tại: An Giang; Hộ khẩu thường trú: Tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn M và bà: Mạc Thị Kim N; không có chồng, có 03 con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày: 15/6/2023 (có mặt tại phiên tòa)
2/ Đỗ Văn M1; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1989; Tại: Vĩnh Long; Hộ khẩu thường trú: ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: sửa xe; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn T và bà Trần Thị N1; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày: 15/6/2023 (có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Quang P – sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: 2 đường B, tổ B, khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người làm chứng: anh Thạch Văn P1 – sinh năm 1983
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Trên cơ sở kết quả điều tra, đã xác định được như sau: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 15/6/2023, Công an phường B, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra đến trước nhà số: B, đường B, Khu phố C, phường B, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Đỗ Văn M1 đang điều khiển xe mô tô biển số: 67S2 - 0122 có biểu hiện nghi vấn nên ra hiệu lệnh kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần sau bên trái của M1 đang mặc có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, M1 khai là ma túy đá nên đưa M1 về trụ sở Công an phường B, thành phố T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Kết quả xét nghiệm ma túy Đỗ Văn M1 dương tính ma túy loại Methemphetamine, MDMA. Vật chứng thu giữ:
- 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2988g, loại Methamphetamine.
- 01 xe mô tô biển số 6782-0122;
- 01 điện thoại hiệu Oppo màu xanh tím, số sim: 0345561618; 0937255730;
- 01 điện thoại Oppo 239 màu trắng nâu, số sim: 0906748658; 0373295423;
Khám xét tại nhà trọ của M1, địa chỉ: nhà không số, Quốc lộ A, Khu phố C phường B, thành phố T thu giữ: 01 túi đeo chéo màu nâu trong đó có 01 gói ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2544g loại Methamphetamie.
Quá trình điều tra, xác định: Đỗ Văn M1 bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2020. Khoảng tháng 12/2022, M1 quen biết với Nguyễn Thị Cẩm U và biết U có bán ma túy. Sau đó, M1 đến nhà U tại địa chỉ: 4, khu phố Đ, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương mua 01 gói ma túy giá 200.000 đồng để sử dụng. Khoảng tháng 5/2023, M1 nảy sinh ý định mua ma túy của U về bán kiếm lời. Ngày 14/6/2023, M1 mua 1.300.000 đồng ma túy đá của U và cất giấu trong túi đeo chéo màu nâu treo trên góc tường của nhà trọ nơi M1 ở. Quá trình bán ma túy, khi người nghiện cần mua ma túy sẽ điện thoại cho M1 để hẹn nơi mua bán, M1 đã bán ma túy cho nhiều người, trong đó đã bán cho 01 người tên P2 (không biết rõ nhân thân, lai lịch) 02 lần, mỗi lần 200.000 đồng và đã 01 lần bán cho Nguyễn Quang P 1 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Lần thứ hai, Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/6/2023, M1 nhận được điện thoại từ số: 0937.255.xxx của Nguyễn Quang P đặt mua 200.000 đồng ma túy đá và hẹn gặp nhau tại số B đường B, Khu phố C, phường B, thành phố T. M1 lấy 01 gói ma túy đá đi bán cho P nhưng trên đường đi bán thì bị phát hiện, bắt giữ như trên.
Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã mời Nguyễn Thị Cẩm U về trụ sở làm việc.
Quá trình điều tra xác định: Thông qua bạn bè xã hội giới thiệu U thường mua ma túy đá của một người đàn ông không rõ lai lịch ở khu vực xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 12/2022 cho đến ngày bị bắt. Mỗi lần U mua 1.000.000 đồng/gói ma túy sau đó phân nhỏ lẻ ra bán giá 200.000 đồng/gói. U sử dụng số điện thoại 0876.707.xxx, tài khoản Zalo Bảo Quyên, tài khoản Momo 0876707670, U sử dụng số điện thoại 0610 Quyên, tài khoản Momo 0876707670, 08888789700 tên Nguyễn Thị Cẩm U để giao dịch mua bán ma túy với người mua ma túy. Trong số người mua ma túy của U có M1, từ tháng 12/2022 đến ngày 14/6/2023, U đã bán ma túy cho M1 04 lần, lần đầu M1 mua 01 gói ma túy đá giá 200.000 đồng vào tháng 12/2022, lần cuối vào ngày 14/6/2023, M1 mua 1.300.000 đồng ma túy đá. Tổng số tiền M1 mua ma túy của U là 2.500.000 đồng.
* Kết quả test ma túy: Nguyễn Thị Cẩm U, Nguyễn Quang P dương tính với ma túy loại Methamphetamine, MDMA. Kết luận giám định số 6555/KL-KTHS ngày 23/6/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: tinh thể không màu cần giám định là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine có khối lượng: Gói 1: có khối lượng 0,2988 gr; Gói 2: có khối lượng 0,2544 gr; Gói 3: có khối lượng 0,1987 gr; Gói 4: có khối lượng 1,7605 gr; Gói 5: có khối lượng 4,1826 gr; Gói 6: Tinh thể không màu, có khối lượng 0,3009 gr.
* Vật chứng thu giữ
- 01 xe máy biển số: 67S2 – 0122, xác minh chủ sở hữu anh Nguyễn Văn Đ, xác minh tại địa phương anh Đ có địa chỉ thường trú tại ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang nhưng thực tế không cư trú tại địa phương, hiện đi đâu, làm gì không rõ nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được với anh Đ.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh tím, số sim: 0345561618, 0937255730; 01 điện thoại di động hiệu Oppo 239 màu trắng nâu, số sim: 0906748658, 0373295423 thu giữ của Đỗ Văn M1, M1 dùng để liên lạc mua, bán ma túy.
- 01 gói niêm phong mẫu vật còn lại sau khi giám định có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra (Kết luận giám định số: 6555 ngày 23/6/2023 - 1354/2023 Đỗ Văn M1, Nguyễn Thị Cẩm U) gồm: Gói 1: Tinh thể không màu, có khối lượng 0,2310 gr; Gói 2: Tinh thể không màu, có khối lượng 0,1989 gr; Gói 3: Tinh thể không màu, có khối lượng 0,1297 gr; Gói 4: Tinh thể không màu, có khối lượng 1,6089 gr; Gói 5: Tinh thể không màu, có khối lượng 4,0277 gr; Gói 6: Tinh thể không màu, có khối lượng 0,2230 gr;
- 01 cân điện tử; 01 cây kéo băng kim loại; 01 túi đeo chéo màu nêu; 10 gói nylong rỗng; 01 chai nhựa gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa;
- 01 điện thoại di động hiệu S, số sim: 0876707670, 0888789700 thu giữ của Nguyễn Thị Cẩm U, U dùng để liên lạc mua, bán ma túy.
- 01 xe máy hiệu Honda Vision biển số: 67E1 – 517.32, xác minh chủ sở hữu Nguyễn Thị Câm U1.
[2] Tại bản Cáo trạng số 227/CT-VKSTPTĐ ngày 44/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố: bị cáo Nguyễn Thị Cẩm U, Đỗ Văn M1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Thị Cẩm U, Đỗ Văn M1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo U từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Bị cáo M1 từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.
Vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận hoặc bào chữa gì.
Các bị cáo nói lời sau cùng rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định:
Khoảng 22 giờ 40 phút, ngày 15/6/2023 tại số D khu phố Đ, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Thị Cẩm U đang tàng trữ 6,4463 gam ma túy loại Methamphetamine, nhằm mục đích bán cho người nghiện thì bị bắt. Quá trình điều tra xác định từ tháng 12/2022 đến ngày 14/6/2023 Nguyễn Thị Cẩm U đã bán ma túy cho người nghiện, trong đó 04 lần bán 04 gói ma túy cho Đỗ Văn M1 với giá tiền từ 300.000 đến 1.300.000 đồng/gói, tổng số tiền thu lợi bất chính trong việc bán ma túy cho M1 là 2.500.000 đồng.
Từ tháng 12/2022 đến ngày 14/6/2023, Đỗ Văn M1 đã bán ma túy cho người nghiện, trong đó bán cho một người tên P2 không rõ lai lịch 02 lần với giá 200.000 đồng/gói và 01 lần bán cho Nguyễn Quang P với giá 200.000 đồng/gói. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/6/2023, M1 đang tàng trữ 0,5532 gam ma túy loại Methamphetamine, nhằm mục đích lần thứ 2 bán cho Nguyễn Quang P với giá 200.000 đồng thì bị bắt quả tang. Tổng số tiền bị cáo M1 thu lợi bất chính 600.000 đồng.
Trong vụ án này bị cáo U xác định chỉ bán ma túy cho duy nhất bị cáo M1, bị cáo Minh xác đ chỉ bán ma túy cho P2 không rõ lai lịch và bán cho P 01 lần và 01 lần chuẩn bị giao ma túy cho P thì bị bắt. Theo hồ sơ vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố T không chứng minh được các bị cáo bán ma túy cho nhiều người, vì vậy áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội, Hội đồng xét xử xác định các bị cáo không phạm tội với tình tiết định khung hình phạt quy định tại Điều 251 là phạm tội đối với 02 người trở lên.
Từ nhận định trên có cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Thị Cẩm U và Đỗ Văn M1 đã bán ma túy nhiều lần, đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, do tính chất đặc biệt của chất ma túy có thể gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội. Nhà nước ta cũng như cả thế giới đều ra sức đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy, mọi hành vi trái pháp luật liên quan đến ma túy đều bị nghiêm cấm và xử lý nghiêm khắc nếu có vi phạm. Vì vậy, cần xử lý các bị cáo bằng hình phạt nghiêm phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo, để giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và nêu gương phòng ngừa chung.
[3] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo P1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Đối với người tên đàn ông không rõ lai lịch bán ma túy cho U, chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra rà soát, sau khi xác minh rõ nhân thân lai lịch sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
[5] Do hoàn cảnh của các bị cáo khó khăn, nên Hội đồng xét xử xem xét và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm U thu lợi bất chính từ việc bán ma túy số tiền 2.500.000 đồng, bị cáo Đỗ Văn M1 thu lợi bất chính 600.000 đồng do đó buộc các bị cáo nộp lại số tiền này để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
- 01 xe máy biển số: 67S2 – 0122, có số khung và số máy nguyên thủy, quá xác minh xác định người đứng tên trên giấy đăng ký xe là anh Nguyễn Văn Đ, xác minh tại địa phương anh Đ có địa chỉ thường trú tại ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang nhưng thực tế không cư trú tại địa phương, hiện đi đâu, làm gì không rõ. Bị cáo M1 khai mượn xe của bạn tên T1 để đi bán ma túy. Hội đồng xét xử nhận thấy xe không xác định được chủ sở hữu, nên cần thông báo tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của chiếc xe trên, nếu không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu chiếc xe để nộp ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh tím, số sim: 0345561618, 0937255730 thu giữ của Đỗ Văn M1; 01 điện thoại di động hiệu Oppo 239 màu trắng nâu, số sim: 0906748658, 0373295423 thu giữ của Nguyễn Quang P, 01 điện thoại di động hiệu S, số sim: 0876707670, 0888789700 thu giữ của Nguyễn Thị Cẩm U. Ba điện thoại này dùng để liên lạc mua, bán ma túy, do đó tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 gói niêm phong mẫu vật còn lại sau khi giám định có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra gồm: Gói 1: Tinh thể không màu, có khối lượng 0,2310 gr; Gói 2: Tinh thể không màu, có khối lượng 0,1989 gr; Gói 3: Tinh thể không màu, có khối lượng 0,1297 gr; Gói 4: Tinh thể không màu, có khối lượng 1,6089 gr; Gói 5: Tinh thể không màu, có khối lượng 4,0277 gr; Gói 6: Tinh thể không màu, có khối lượng 0,2230 gr; 01 cân điện tử; 01 cây kéo băng kim loại; 01 túi đeo chéo màu nêu; 10 gói nylong rỗng và 01 chai nhựa gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa là vật cấm lưu hành và sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe máy hiệu Honda Vision biển số: 67E1 – 517.32, xác minh chủ sở hữu Nguyễn Thị Cẩm U không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
[7] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Cẩm U, Đỗ Văn M1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”,
- Áp dụng Điều 38; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Cẩm U 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2023.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn M1 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2023.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mẫu vật còn lại sau khi giám định có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra gồm: Gói 1: Tinh thể không màu, có khối lượng 0,2310 gr; Gói 2: Tinh thể không màu, có khối lượng 0,1989 gr; Gói 3: Tinh thể không màu, có khối lượng 0,1297 gr; Gói 4: Tinh thể không màu, có khối lượng 1,6089 gr; Gói 5: Tinh thể không màu, có khối lượng 4,0277 gr; Gói 6: Tinh thể không màu, có khối lượng 0,2230 gr; 01 cân điện tử; 01 cây kéo bằng kim loại; 01 túi đeo chéo màu nêu; 10 gói nylong rỗng và 01 chai nhựa gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa.
- + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh tím, số sim: 0345561618, 0937255730; 01 điện thoại di động hiệu Oppo 239 màu trắng nâu, số sim: 0906748658, 0373295423 và 01 điện thoại di động hiệu S, số sim: 0876707670, 0888789700.
- + Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của xe mô tô hiệu 01 xe máy biển số: 67S2 – 0122, số khung RNRWCH3UMA1116324, số máy RNRHC152F-MH116324. Hết thời hạn 6 tháng mà không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu chiếc xe để nộp ngân sách nhà nước.
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Cẩm U 01 xe máy hiệu Honda Vision biển số: 67E1 – 517.32, số khung RLHJK0314NY016889, số máy JK03E0640265
- + Buộc các bị cáo nộp lại tiền thu lợi bất chính để nộp vào ngân sách Nhà nước cụ thể: bị cáo Nguyễn Thị Cẩm U phải nộp 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng), bị cáo Đỗ Văn M1 phải nộp 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).
(Phiếu nhập kho số NK24/244C ngày 07/5/2024 Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án các bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, thời gian kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thu Thảo |
Bản án số 374/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 374/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Thi Cam U va dong bon
