Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 373/2024/DS-PT

Ngày: 26/4/2024

V/v Tranh chấp đặt cọc chuyển nhượng nhà đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Hiền

Các Thẩm phán:

Bà Phạm Thị Thảo

Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Nguyễn Phương Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Trần Thị Kim Nghĩa – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26/4/2024 tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã mở phiên tòa xét xử công khai đối với vụ án dân sự phúc thẩm đã thụ lý số 133/2024/TLPT-DS ngày 23/01/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng nhà đất”

Do bản án dân sự sơ thẩm số 3292/2023/DSST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1311/2024/QĐPT-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 4243/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đặng Xuân D – sinh năm 1983

Địa chỉ liên lạc: Số C P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị C – sinh năm 1956 (vắng mặt)

Địa chỉ liên lạc: Số C B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Giấy ủy quyền số 14204 ngày 05/9/2018 tại Văn phòng C1.

- Bị đơn:

  1. Ông Lê Tấn T – sinh năm 1977
  2. Bà Hồ Thị Tú Q – sinh năm 1979

Cùng địa chỉ: Số B Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Anh T1 – sinh năm 1991 (có mặt)

Địa chỉ liên lạc: Số G P, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Giấy ủy quyền số 7400 ngày 06/8/2018 tại Văn phòng C2

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị Lan P – sinh năm 1953 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số F đường số E, khu phố A, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Do có kháng cáo của: Bị đơn ông Lê Tấn T, bà Hồ Thị Tú Q, kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Đặng Xuân D do bà Lê Thị C đại diện ủy quyền trình bày:

Ngày 11/12/2017 ông Lê Tấn T, bà Hồ Thị Tú Q và ông Đặng Xuân D có ký hợp đồng đặt cọc về việc mua bán 01 phần nhà đất tại số A đường A, khu phố A, phường H, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh thuộc thửa đất 142 tờ bản đồ 97, diện tích 120m², sai số 10% theo bản vẽ số 710-2/TP2017 ngày 27/11/2017 do công ty TNHH Đ lập. Theo đó nội dung thỏa thuận trong hợp đồng: Giá mua bán là 3.500.000.000 đồng, ông D đã giao cho ông T và bà Q 100.000.000 đồng tiền đặt cọc; khoảng 30 ngày kể từ ngày đặt cọc hai bên sẽ ký hợp đồng mua bán tại phòng công chứng. Khi đó ông D sẽ thanh toán số tiền còn lại 3.350.000.000 đồng. Số tiền còn lại 50.000.000 đồng ngay sau khi nhận được biên nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của Ủy ban nhân dân T2 thì ông D sẽ giao cho bên ông T, bà Q.

Đến ngày 11/01/2018 ông D liên hệ với bà Q, ông T đề nghị thực hiện cam kết theo hợp đồng đặt cọc thì bà Q, ông T đang thực hiện làm thủ tục tách thửa, nên chưa thực hiện được và đề nghị dời ngày ký hợp đồng mua bán tại Phòng công chứng. Ông D không đồng ý và bà Q cam kết sẽ trả lại tiền cọc, nếu muốn tiếp tục thì sau khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ thương lượng giá mua bán sau.

Ngày 12/02/2018, bà Q liên hệ với ông D đề nghị đến Phòng công chứng ký hợp đồng mua bán. Khi ông D xem bản vẽ sơ đồ nhà đất ông D phát hiện diện tích nhà đất không đúng như hợp đồng đặt cọc hai bên đã ký kết. Cụ thể, diện tích nhà đất mua bán theo hợp đồng đặt cọc là 120m² nhưng diện tích công nhận thực tế chỉ có 85m², 22,9m² không được công nhận thể hiện tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 052140, số vào sổ cấp GCN: CH 09812 do UBND quận T2 (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/01/2018.

Do bà Q và ông T không thực hiện đúng hợp đồng đặt cọc về việc mua bán 01 phần căn nhà ở và đất tại số A đường A, khu phố A, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc thửa đất 142 (thửa mới 696), tờ bản đồ 97, diện tích 120m², sai số 10% theo bản vẽ số 710-2/TP2017 nên đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông T và bà Q phải thanh toán trả số tiền 100.000.000 đồng đặt cọc và tiền bồi thường cọc là 100.000.000 đồng theo Hợp đồng đặt cọc ngày 11/12/2017. Tổng cộng là 200.000.000 đồng. Ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu nào khác.

Bị đơn ông Lê Tấn T và bà Hồ Thị Tú Q do ông Phạm Anh T1 đại diện ủy quyền trình bày:

Ông T, bà Q không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xác định hợp đồng đặt cọc đúng pháp luật, ông T, bà Q có đủ tư cách ký và nhận tiền cọc với ông D. Việc không tiếp tục ký hợp đồng mua bán chuyển nhượng có công chứng là do lỗi của nguyên đơn cho rằng sau khi tách sổ diện tích không đúng như thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc. Nhưng thực tế diện tích thổ cư nhiều hơn, có lợi cho ông D. Thời điểm ký hợp đồng đặt cọc, ông T, bà Q đang làm thủ tục tách thửa tại cơ quan chức năng, việc chậm trễ thời gian là vì lý do khách quan chứ không phải do lỗi chủ quan của ông T, bà Q. Thời gian chậm trễ cũng không nhiều nên hai bên cũng không lập biên bản thỏa thuận gia hạn thời gian ký hợp đồng chuyển nhượng. Nay ông T, bà Q không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Lan P vắng mặt tại phiên tòa nhưng có bản tự khai đề ngày 06/7/2023:

Căn nhà và đất tại số A đường A, khu phố A, phường H, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 11/12/2017, bà P đã ủy quyền toàn phần cho ông T được toàn quyền mua bán, chuyển nhượng, được nhận các khoản tiền phát sinh từ nội dung ủy quyền này... Do vậy việc ông T, bà Q ký nhận cọc hay ký bán nhà, đất nói trên cho ai bà P không có ý kiến và yêu cầu gì. Đề nghị tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, bà P xin vắng mặt trong suốt quá trình tòa án giải quyết vụ án.

* Tại bản án số 3292/2023/DSST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:

  • Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điều 131,Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Án lệ số 25/2018/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ - CA ngày 06/11/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
  • Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;
  • Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Xuân D.
  2. - Buộc ông Lê Tấn T, bà Hồ Thị Tú Q trả cho ông Đặng Xuân D số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng.

    Kể từ ngày ông Đặng Xuân D có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông Lê Tấn T bà Hồ Thị Tú Q còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Xuân D về việc yêu cầu ông Lê Tấn T, bà Hồ Thị Tú Q trả số tiền phạt cọc là 100.000.000 đồng.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm:
  5. Ông Đặng Xuân D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000 đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền 5.000.000 đồng ông Đặng Xuân D đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2017/0004090 ngày 13/3/2018 do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh lập.

    Ông Lê Tấn T, bà Hồ Thị Tú Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000 đồng.

- Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và thi hành án của các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Bị đơn bà Hồ Thị Tú Q, ông Lê Tấn T có Đơn kháng cáo đề ngày 07/9/2023, kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn ông Lê Tấn T, bà Hồ Thị Tú Q do người đại diện theo ủy quyền ông Phạm Anh T1 trình bày: Bị đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn hoàn trả 100.000.000 đồng tiền cọc, sửa một phần bản án sơ thẩm.

- Nguyên đơn ông Đặng Xuân D do bà Lê Thị C là người đại diện theo ủy quyền, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Lan P: Vắng mặt nên không có phần trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật.

Về hình thức đơn kháng cáo của bị đơn ông Lê Tấn T, bà Hồ Thị Tú Q trong hạn luật định nên hợp lệ.

Về nội dung vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên toàn bộ bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Lê Tấn T, bà Hồ Thị Tú Q trong hạn luật định, nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. [2] Về tố tụng: Bà Lê Thị C là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đặng Xuân D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Lan P vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa phúc thẩm, không rõ lý do, dù được Tòa án triệu tập hợp lệ, căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự trên.
  3. [3] Về nội dung:
    1. [3.1] Xét bản chính Hợp đồng đặt cọc nhà – đất ngày 11/12/2017 (BL 70) (sau đây gọi tắt là Hợp đồng ngày 11/12/2017) được giao kết bởi ông Lê Tấn T và bà Hồ Thị Tú Q, ông Đặng Xuân D là những chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, không bị ép buộc. Nội dung hợp đồng các bên đồng ý mua bán 01 phần nhà đất tại số A đường A, phường H, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc thửa đất 142 tờ bản đồ 97, diện tích 120m², trong đó đất ở 50,7 m², sai số 10% so với bản vẽ số 710-2/TP2017 ngày 27/11/2017 do Công ty TNHH Đ lập, giá mua bán là 3.500.000.000 đồng, ông D đã giao cho ông T và bà Q 100.000.000 đồng tiền đặt cọc.
    2. Nhà đất trên đã được Ủy ban nhân dân quận T2 (nay là thành phố T) cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho bà Vũ Thị Lan P theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất hồ sơ gốc số 5772/2007/GCN ngày 23/11/2007, nội dung: Thửa đất số 142 tờ bản đồ số 97, diện tích nhà ở 257,8 m², kết cấu nhà: tường gạch, mái tôn, sàn bê tôn cốt thép, diện tích đất 294,2 m². Ngày 11/12/2017 bà Vũ Thị Lan P và ông Lê Tấn T lập hợp đồng ủy quyền, nội dung cho ông Lê Tấn T được: Quản lý, sử dụng căn nhà và đất cùng bản chính các giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất nêu trên, được cho thuê, nhận đặt cọc, chuyển nhượng hoặc tặng cho theo quy định của pháp luật, được nhận các khoản tiền phát sinh từ nội dung ủy quyền này. Để tách thửa làm thủ tục sang tên cho ông Đặng Xuân D, ông T, bà Q nộp hồ sơ xin tách thửa, ngày 30/01/2018 Ủy ban nhân dân quận T2 (nay là Thành phố T) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Vũ Thị Lan P, nội dung: Thửa đất số 696, tờ bản đồ số 97, địa chỉ: Một phần nhà số A, đường số A, khu phố A, phường H, quận T (nay là Thành phố T), diện tích 85,8m², loại nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng 62,5m², diện tích sàn 62,5m². Diện tích đất 22,9m² thuộc lộ giới không được công nhận. Thửa cũ: Mpt 142, Lộ gới đường số A:12m, lộ giới hèm xi măng dự kiến 12m, đường quy hoạch 12m.

    3. [3.2] Xét thấy, tại Hợp đồng ngày 11/12/2017 hai bên thỏa thuận diện tích mua bán là 120m² có thể sai số 10% thì diện tích là 108m², nhưng diện tích công nhận thực tế chỉ có 85,8m² còn lại 22,9m² thuộc lộ giới không được công nhận. Do diện tích nhà đất không đúng trong hợp đồng đặt cọc nên ông D không ra công chứng ký hợp đồng, việc ông D không ra công chứng để ký hợp đồng mua bán là không phải do lỗi của ông D, mà do diện tích đất thỏa thuận trong giấy tờ ban đầu đặt cọc không đúng với diện tích đất trong giấy tờ khi ra công chứng. Mặt khác khi kí kết Hợp đông ngày 11/12/2017 các bên đều biết nhà đất vẫn chưa được tách thửa, chưa được công nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở riêng đối với phần diện tích mà các bên thỏa thuận chuyển nhượng nhưng vẫn ký hợp đồng giao dịch về việc đặt cọc là có vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 119 Luật nhà ở năm 2014, Điều 123 Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định Hợp đồng ngày 11/12/2017 giữa ông Lê Tấn T, bà Hồ Thị Tú Q với ông Đặng Xuân D là vô hiệu theo Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015 là có cơ sở, buộc ông T, bà Q phải trả lại cho ông D 100.000.000 đồng tiền cọc.
    4. [3.3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có căn cứ không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các đương sự khác trong vụ án không kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không kháng nghị, do đó căn cứ quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 3292/2023/DSST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh không bị kháng cáo, kháng nghị nên vẫn giữ nguyên.
    5. [3.4] Về án phí:

      Án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định của pháp luật, nguyên đơn ông Đặng Xuân D phải chịu án phí đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận; Bị đơn ông Lê Tấn T và bà Hồ Thị Tú Q phải chịu án phí đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

      Án phí dân sự phúc thẩm: Theo quy định của pháp luật, do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo là bị đơn ông Lê Tấn T, bà Hồ Thị Tú Q phải chịu án phí.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ Điều 26, Điều 147, Điều 148, Điều 293; Điều 296; Điều 306, khoản 1 Điều 308, Điều 313, Điều 315 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 131, Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Án lệ số 25/2018/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ - CA ngày 06/11/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;
  • - Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
  • - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội.

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Lê Tấn T, bà Huỳnh Thị Tú Q1 trong hạn luật định được chấp nhận.

Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Tấn T, bà Huỳnh Thị Tú Q1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 3292/2023/DSST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Xuân D.
  2. - Buộc ông Lê Tấn T, bà Hồ Thị Tú Q trả cho ông Đặng Xuân D số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng.

    Kể từ ngày ông Đặng Xuân D có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông Lê Tấn T bà Hồ Thị Tú Q còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Xuân D về việc yêu cầu ông Lê Tấn T, bà Hồ Thị Tú Q trả số tiền phạt cọc là 100.000.000 đồng.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm:
  5. Ông Đặng Xuân D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000 đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền 5.000.000 đồng ông Đặng Xuân D đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2017/0004090 ngày 13/3/2018 do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh lập.

    Ông Lê Tấn T, bà Hồ Thị Tú Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000 đồng.

  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Tấn T, bà Hồ Thị Tú Q phải nộp là 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã tạm nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0000647 ngày 14/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Lê Tấn T, bà Hồ Thị Tú Q đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Các đương sự thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao tại TP.HCM;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND TP Thủ Đức, TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Chi cục THADS TP Thủ Đức, TP.HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 373/2024/DS-PT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đặt cọc chuyển nhượng nhà đất

  • Số bản án: 373/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đặt cọc chuyển nhượng nhà đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Xuân Dũng - Lê Tấn Thạch
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger