|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 373/2023/DSPT
Ngày: 24 - 8 - 2023
V/v “tranh chấp quyền sử
dụng đất, mở lối đi và hợp
đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất”
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan. |
| Các Thẩm phán: | Bà Phan Thị Tuyết Mai; |
| Bà Nguyễn Thị Trang Thư. | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ. |
| - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: | Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên tham gia phiên toà. |
Trong các ngày 22 và 24 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2023/TLPT- DS ngày 24 tháng 02 năm 2023 về “ tranh chấp quyền sử dụng đất, mở lối đi và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 126/2022/DS – ST ngày 27 tháng 12 năm 2022 của Toà án nhân dân quận Bình Thủy bị nguyên đơn ông Lê Minh K kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 195/2023/QĐPT-DS ngày 21 tháng 3 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 221/2023/QĐ-PT ngày 22 tháng 5 năm 2023, Thông báo mở lại phiên tòa số 130/2023/TB-TA ngày 07 tháng 6 năm 2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số 172/2023/TB-TA ngày 31 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Minh K, sinh năm 1975; địa chỉ: Số A, KV P, thị trấn G, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)
- Bị đơn:
- 2.1 Bà Đỗ Trúc M, sinh năm 1981; (vắng mặt)
- 2.2 Ông Nguyễn Công T, sinh năm 1981; (vắng mặt)
- 2.3 Ông Lê Quốc V, sinh năm 1966; (vắng mặt)
- 2.4 Bà Đỗ Trúc P, sinh năm 1972; (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- 3.1 Ông Đinh Văn N, sinh năm1979; (vắng mặt)
- 3.2 Bà Trần Lưu Bảo T1, sinh năm 1984; (vắng mặt)
- 3.3 Bà Trần Lưu Bảo L1, sinh năm 1984; (vắng mặt)
- 3.4 Ông Lưu Minh T2, sinh năm 1966; (vắng mặt)
- 3.5 Anh Nguyễn Thuận T3, sinh năm 2004; (vắng mặt)
- 3.6 Anh Lê Quốc H1, sinh năm 1994; (vắng mặt)
- 3.7 Anh Lê Quốc S, sinh năm 1996; (vắng mặt)
- Người kháng cáo: Ông Lê Minh K, ông Nguyễn Công T và bà Đỗ Trúc M.
Người đại diện ủy quyền cho nguyên đơn: Ông Trần Chấn H, sinh năm 1971; địa chỉ: C Khu đô thị M, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Địa chỉ: E tổ I, KV B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Công T, bà Đỗ Trúc M là ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1990; địa chỉ: A C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đỗ Trúc M là ông Lê Kim B, sinh năm 1957 là Luật sư thuộc Trung tâm Tư vấn pháp luật - Hội Luật gia thành phố C; địa chỉ: Số I P, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Cùng địa chỉ: Số E tổ I khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Đại diện cho nguyên đơn: Ông Trần Chấn H trình bày:
- Đại diện theo ủy quyền cho bị đơn bà Đỗ Trúc M, ông Nguyễn Công T, bà Đỗ Trúc P, ông Lê Quốc V– ông Nguyễn Văn L trình bày:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Minh K đối với bị đơn bà Đỗ Trúc M, ông Nguyễn Công T, bà Đỗ Trúc P, ông Lê Quốc V.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đỗ Trúc M, ông Nguyễn Công T đối với nguyên đơn ông Lê Minh K.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Minh K, bà Đỗ Trúc M, ông Nguyễn Công T, ông Lưu Minh T2 đối với bà Trần Lưu Bảo L1, bà Trần Lưu Bảo T1.
- Về chi phí thẩm định, đo đạc và định giá: 13.407.000 đồng (Mười ba triệu bốn trăm lẻ bảy nghìn đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn được Ủy ban nhân dân quận B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH08562 ngày 23/10/2014 đối với thửa số 543, tờ bản đồ số 16, diện tích 881,9m² tại khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Nguồn gốc là nhận chuyển nhượng quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất của bà T1, bà L1, ông N với giá là 750.000.000 đồng. Sau đó nguyên đơn cho bà T1, bà L1, ông N thuê nhà đất này để gia đình ở. Hết hạn theo hợp đồng thuê nhà đất đã lâu, nguyên đơn nhiều lần yêu cầu bà T1, bà L1, ông N giao nhà, đất nhưng ông bà chỉ hứa cho qua chuyện. Do đó, nguyên đơn có Đơn kiện ngày 25/4/2019 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T1, bà L1, ông N phải di dời tài sản và giao trả nhà, đất đã chuyển nhượng cho nguyên đơn.
Ông K là chủ sở hữu, chủ sử dụng hợp pháp đối với nhà, đất nêu trên tuy nhiên khi Tòa án tiến hành thẩm định thửa đất 543 thì phát hiện bà Đỗ Trúc M, bà Đỗ Trúc P, ông Nguyễn Công T, ông Lê Quốc V đã bao chiếm trái phép đất của nguyên đơn để xây dựng nhà ở trên đất trồng cây lâu năm. Vì vậy nguyên đơn có Đơn kiện bổ sung ngày 24/3/2021 yêu cầu bà Đỗ Trúc M, bà Đỗ Trúc P, ông Nguyễn Công T, ông Lê Quốc V phải tháo dỡ, di dời nhà ở, công trình xây dựng và tài sản sinh họat của ông bà đi nơi khác để trả lại phần đất diện tích 123,1m² (Cây lâu năm) thuộc thửa đất 543, tờ bản đồ 16 tại khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ cho nguyên đơn.
Ngày 27/10/2022 nguyên đơn có Đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện: Nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với bà Trần Lưu Bảo T1, Trần Lưu Bảo L1, yêu cầu Tòa án đình chỉ đối với phần yêu cầu khởi kiện nêu trên.
Tại phiên tòa: Đại diện cho nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu buộc bà Đỗ Trúc M, bà Đỗ Trúc P, ông Nguyễn Công T, ông Lê Quốc V phải tháo dỡ, di dời nhà ở, công trình xây dựng và tài sản sinh họat của ông bà đi nơi khác để trả lại phần đất diện tích 123,1m² (Cây lâu năm) thuộc thửa đất 543, tờ bản đồ 16 tại khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ cho nguyên đơn. Đề nghị đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bà Trần Lưu Bảo T1, bà Trần Lưu Bảo L1.
Ngày 27/3/2013 ông T, bà M có thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà T1, bà L1 diện tích 120m² (Ngang 10m, dài 12m) thuộc một phần đất thửa số 543, tờ bản đồ 16 tại địa chỉ khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ với giá là 80.000.000 đồng. Hai bên có lập Tờ thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giấy tay.
Ông T, bà M đã giao đủ tiền cho bà T1, bà L1 và đã nhận diện tích đất sử dụng. Trong năm 2013 ông T, bà M đã xây dựng 02 căn nhà trên đất và sử dụng ổn định đến nay, trong đó 01 căn là gia đình của ông T, bà M ở, còn 01 căn là gia đình của chị gái của bà M là bà P, ông V ở. Quá trình xây dựng bà L1, bà T1 là người trực tiếp chỉ ranh và không có tranh chấp với ai. Ông T, bà M đã sử dụng một cách liên tục từ khi nhận chuyển nhượng đến nay, hiện ông bà đã được cấp hộ khẩu trên đất này. Việc bà L1, bà T1 đã sang tên toàn bộ quyền sử dụng đất thửa số 543 cho ông K mà không có ý kiến của ông T, bà M là không đúng, xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi của gia đình bà M.
Hiện nay, phần đất của bị đơn bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra đường công cộng. Vì vậy cần mở lối đi chung cho các bên từ đường xi măng chạy dài đến phần đất tại vị trí A, B (Theo Bản trích đo địa chính của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C) của gia đình bị đơn đang sử dụng.
Theo Đơn yêu cầu ngày 17/6/2020 và Đơn yêu cầu bổ sung ngày 01/4/2021 bị đơn ông T, bà M khởi kiện đối với bà T1, bà L1 và ông Khoa nội d yêu cầu như sau:
Công nhận Tờ thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 27/3/2013 giữa bị đơn và bà T1, bà L1;
Công nhận và ổn định cho ông T, bà M được sử dụng phần đất diện tích theo đo đạc thực tế 123,1m² thuộc một phần của thửa đất số 543 mà bà M, ông T nhận chuyển nhượng từ bà T1, bà L1.
Buộc ông K mở lối đi chung từ đường công cộng chạy dài đến phần đất tại vị trí A, B theo Bản trích đo địa chính của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C.
Ngày 19/10/2022 bị đơn có Đơn yêu cầu rút một phần yêu cầu như sau: Rút yêu cầu kiện đối với bà T1, bà L1 và giữ nguyên yêu cầu kiện ông K với những nội dung như trên.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 126/2022/DS – ST ngày 27 tháng 12 năm 2022 của Toà án nhân dân quận Bình Thủy đã tuyên xử:
Buộc bà Đỗ Trúc M, ông Nguyễn Công T, bà Đỗ Trúc P và ông Lê Quốc V trả phần đất 123,1m² tại vị trí A, B thuộc thửa đất 543, Tờ bản đồ 16 theo Bản trích đo địa chính số 76/TTKTTNMT ngày 07/7/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C theo giá trị bằng tiền là 184.650.000 đồng (Một trăm tám mươi bốn triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) cho ông Lê Minh K.
Bà Đỗ Trúc M và ông Nguyễn Công T có trách nhiệm trả cho ông Lê Minh K số tiền 184.650.000 đồng (Một trăm tám mươi bốn triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) và bà Đỗ Trúc M, ông Nguyễn Công T được quyền quản lý, sử dụng phần đất 123,1m² tại vị trí A, B thuộc thửa đất 543, tờ bản đồ 16 theo Bản trích đo địa chính số 76/TTKTTNMT ngày 07/7/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C. Sau khi Bà Đỗ Trúc M, ông Nguyễn Công T trả đủ cho ông Lê Minh K số tiền 184.650.000 đồng (Một trăm tám mươi bốn triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) thì có quyền đăng ký thủ tục sang tên theo quy định pháp luật đất đai.
Bà Đỗ Trúc M, ông Nguyễn Công T được sử dụng phần đất tại vị trí D theo Bản trích đo địa chính số 76/TTKTTNMT ngày 07/7/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C trên phần đất của ông Lê Minh K để làm lối đi ra đường công cộng (Đường xi măng 4m). Bà Đỗ Trúc M, ông Nguyễn Công T có trách nhiệm đền bù cho ông Lê Minh K số tiền 49.350.000 đồng (Bốn mươi chín triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Trúc M, ông Nguyễn Công T công nhận Tờ thỏa thuận nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/3/2013.
(Bản án kèm theo Bản trích đo địa chính số 76/TTKTTNMT ngày 07/7/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C)
Ông Lê Minh K và bà Đỗ Trúc M, ông Nguyễn Công T, mỗi bên chịu ½ chi phí là 6.703.500 đồng (Sáu triệu bảy trăm lẻ ba nghìn năm trăm đồng). Nguyên đơn hoàn lại cho bà Đỗ Trúc M, ông Nguyễn Công T 593.000 đồng (Năm trăm chín mươi ba nghìn đồng).
Nguyên đơn chịu án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 005146 ngày 29/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Nguyên đơn đã nộp xong án phí.
Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 009988 ngày 08/8/2019 Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn bà Đỗ Trúc M, ông Lê Quốc V chịu án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn bà Đỗ Trúc M, ông Nguyễn Công T phải chịu án phí 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Được trừ tiền tạm ứng án phí 585.000 đồng (Năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 004595 ngày 16/7/2020 và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002034 ngày 14/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Bị đơn được nhận lại số tiền 285.000 đồng (Hai trăm tám mươi lăm nghìn đồng).
Ông Lưu Minh T2 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 004607 ngày 21/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương. Bản án nêu trên ông Lê Minh K kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Đồng thời yêu cầu hủy bản án sơ thẩm vì có những vi phạm về nội dung và thủ tục tố tụng giải quyết vụ án.
Đại diện theo ủy quyền của ông T, bà M và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T, bà M đề nghị hủy bản án sơ thẩm do có vi phạm về nội dung và thủ tục tố tụng giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm:
* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Trong giai đoạn phúc thẩm Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về Thụ lý xét xử phúc thẩm (Điều 285); Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm (Điều 286); Cung cấp tài liệu, chứng cứ (Điều 287); Triệu tập những người tham gia tố tụng (Điều 294).
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng theo thẩm quyền được quy định tại Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Thư ký phiên tòa đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn đúng theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
* Về việc giải quyết vụ án dân sự: căn cứ vào những chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự hủy bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy bản án sơ thẩm do có vi phạm về nội dung và thủ tục tố tụng giải quyết vụ án. Do đó, vấn đề cần làm rõ là bản án có vi phạm về thủ tục tố tụng và nội dung hay không.
[2] Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện ngày 25/4/2019, nguyên đơn khởi kiện bị đơn và bà Trần Lưu Bảo T1 và Trần Lưu Bảo L1 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Ông Trần Chấn H được Tòa án chấp nhận tư cách là đại diện ủy quyền của nguyên đơn theo giấy ủy quyền ngày 20/4/2019. Đến ngày 24/3/2021 ông K có đơn khởi kiện bổ sung về việc tháo dỡ, di dời nhà ở, công trình và tài sản trên đất có bị đơn là bà Đỗ Trúc M, ông Nguyễn Công T, bà Đỗ Trúc P, ông Lê Quốc V. Như vậy, hai yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn có đối tượng khởi kiện, chủ thể bị kiện và quan hệ pháp luật tranh chấp khác nhau.Ngày 27/10/2022 ông K có đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với bà T1 và bà L1. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án chỉ còn lại là “yêu cầu buộc tháo dỡ, di dời nhà ở, công trình và tài sản trên đất”. Trong tranh chấp này, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ tư cách tham gia tố tụng của ông H nhưng đã đưa ông H tham gia các hoạt động tố tụng và lập đơn kháng cáo là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
[3] Về nội dung:
Theo đơn khởi kiện, ông K yêu cầu các bị đơn di dời nhà, công trình trên đất để trả lại cho ông quyền sử dụng đất. Bị đơn có yêu cầu phản tố đề nghị công nhận tờ thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 27/3/2013 giữa các bị đơn và bà T1, bà L1. Do đó, vấn đề cần làm rõ là việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hay không giữa bị đơn với bà T1, bà L1 và việc chuyển nhượng này có hợp pháp hay không.
Xét thấy, Ông K nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà T1, bà L1, ông N theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng ngày 16/9/2013. Hợp đồng này về mặt nội dung, hình thức đúng theo quy định tại Điều 689, 697, 698 của Bộ luật dân sự năm 2005. Ông K được Ủy ban nhân dân quận B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất số BV 278410, số vào sổ cấp GCN: CH 08562 ngày 23/10/2014. Theo Công văn số 2690/UBND-NCPC ngày 19/7/2022 của Ủy ban nhân dân quận B xác định: Trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K đúng quy định. Theo Hợp đồng chuyển nhượng nhà ở và đất ở năm 2013 có chữ ký xác nhận của bà T1, bà L1, ông N thì bà T1, bà L1, ông N chuyển nhượng phần đất và căn nhà trên đất cho ông K. Do đó về mặt pháp lý, ông K là chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất 543 và căn nhà trên đất, theo xác định của đại diện nguyên đơn căn nhà trên đất mà bà T1, bà L1, ông N bán cho ông K ở vị trí đầu tiên tính từ đường xin măng 4m theo Bản trích đo địa chính số 76/TTKTTNMT ngày 07/7/2022, diện tích xây dựng 131,52m². Tuy nhiên, theo biên bản xác minh ngày 28/5/2020 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, ông Phạm Văn V1 tổ trưởng tổ 9 khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Đồng thời, là người làm chứng trong Tờ thỏa thuận nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/3/2013 giữa bà L1, bà T1 và bà M, ông T xác nhận vào năm 2013 ông có chứng kiến việc chuyển nhượng giữa các bên. Bà Nguyễn Thị Ngọc H2 là người giáp ranh kế bên cũng xác định năm 2013 bà M, ông T có nhận chuyển nhượng phần đất từ bà T1, bà L1 và nhờ bà ký giáp ranh. Do đó xác định sự thật bà T1, bà L1 có chuyển nhượng cho bà M, ông T phần đất tranh chấp.
Căn cứ theo Tờ thỏa thuận chuyển nhượng thì ông T, bà M thỏa thuận chuyển nhượng đất với bà T1 vào tháng 3/2013 đến ngày 16/9/2013 bà T1, bà L1 mới xác lập hợp đồng chuyển nhượng với ông K. Như vậy, xét về thời gian thì các bị đơn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước nguyên đơn, các bị đơn cho rằng sau khi nhận chuyển nhượng đất thì tiến hành xây dựng nhà. Do đó, cần xác minh làm rõ việc xây dựng nhà của các bị đơn được tiến hành trước hay sau thời điểm ông K nhận chuyển nhượng đất cũng như xác định tài sản trên đất chuyển nhượng có phải thuộc quyền sử dụng của bà T1, bà L1 hay không. Cấp sơ thẩm, chưa làm rõ vấn đề này để xác định tại thời điểm chuyển nhượng giữa ông K với bà T1, bà L1 thì đối tượng chuyển nhượng là gì quyền sử dụng đất hay bao gồm tài sản trên đất và tài sản trên đất bao gồm những gì để từ đó xem xét hợp đồng chuyển nhượng có vi phạm về đối tượng chuyển nhượng hay không?
Ngoài ra, mặc dù việc chuyển nhượng giữa bà T1, bà L1 với ông T bà M chưa được xác lập bằng văn bằng đúng về mặt hình thức nhưng thực tế, ông T bà M đã nhận tài sản, xây nhà, ở ổn định và đã trả hơn 2/3 số tiền theo thỏa thuận chuyển nhượng.Hơn nữa, theo bản trích đo địa chính thì tổng diện tích đất sử dụng của bà M, ông T, ông V, bà P là 123,9m². Diện tích đất nay chưa đủ để đảm bảo tách thửa đất theo quyết định số 16 ngày 15/6/2022 của ủy ban nhân dân thành phố C. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng xảy ra vào tháng 3 năm 2013 trước khi Quyết định số 19 ngày 24/11/2014 của Ủy ban nhân dân thành phố có hiệu lực thi hành. Như vậy, đối với trường hợp này thì Ủy ban nhân dân thành phố có ý kiến như thế nào từ đó để có căn cứ công nhận việc chuyển nhượng của ông T, bà M với bà T1, bà L1 hay không?
Mặt khác, quá trình xét xử sơ thẩm bà L1, bà T1 đều vắng mặt nên cấp sơ thẩm chưa ghi nhận được ý kiến của bà L1, bà T1. Tuy nhiên, quá trình xét xử phúc thẩm, bà L1, bà T1 gửi tờ tường trình với nội dung bà L1, bà T1 có chuyển nhượng đất cho ông K, đồng thời xác định chỉ cho bà M ở nhờ trên phần đất đã chuyển nhượng cho ông K. Lời trình bày của bà L1, bà T1 mâu thuẫn với các chứng cứ do bị đơn cung cấp như “Tờ chuyển nhượng đất lập ngày 27/03/2013 và Vi bằng số 66/2020/VB – TPLCT lập ngày 26/5/2020” cũng chưa được đối chất làm rõ điều này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của phía bị đơn.
Từ những căn cứ nêu trên cho thấy, bản án sơ thẩm có những vi phạm về nội dung và tố tụng mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, cần hủy bản án để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn, bị đơn bà Đỗ Trúc M, ông Nguyễn Công T không phải chịu. Nguyên đơn, bị đơn bà Đỗ Trúc M, ông Nguyễn Công T được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào
Khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Hủy bản án sơ thẩm số 126/2022/DS- ST ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- Chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân quận Bình Thủy để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chưa xem xét.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn không phải chịu, nguyên đơn được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002980 ngày 13 tháng 01 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Ông Nguyễn Công T và bà Đỗ Trúc M được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002976 ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Loan |
9
Bản án số 373/2023/DSPT ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất, mở lối đi và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 373/2023/DSPT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất, mở lối đi và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoa - Mai - T/c QSD đất, mở lối đi và HĐCN QSD đất
