|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số:373/2024/HS-ST Ngày 23-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Ông Phan Anh Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 346/2024/TLST-HS ngày 14/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 344/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Hoàng P. Tên gọi khác: Cu em - Giới tính: Nam. Sinh năm 1985, tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Tổ B, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Thiên Chúa.
Nghề nghiệp: Không - Trình độ học vấn: Lớp 08/12.
Họ tên cha: Nguyễn Hoàng S – Sinh năm: 1942 (Đã chết).
Họ tên mẹ: Phạm Thị T - Sinh năm: 1952 (Đã chết).
Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư.
Bị cáo đã ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim A - Sinh năm 1986.
Bị cáo có 02 con, sinh năm 2009 và sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 18-6-2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa chấp hành phần bồi thường số tiền 3.235.000₫ (Ba triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng). Tuy nhiên Bản án đã hết thời hiệu thi hành từ ngày 18-7-2013.
Bị tạm giữ từ ngày 20-12-2023, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
2/ Họ và tên: Cù Tiến H. Tên gọi khác: H nổ - Giới tính: Nam. Sinh năm 1994, tại Phú Thọ.
Nơi cư trú: 25, tổ C, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Thợ hồ - Trình độ học vấn: Lớp 07/12.
Họ tên cha: Cù Văn H1 - Sinh năm 1964 (còn sống).
Họ tên mẹ: Lê Thị N - Sinh năm 1967 (còn sống).
Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư.
Bị cáo sống chung với chị Nguyễn Diễm H2 - Sinh năm 1999 và có 01 con sinh năm 2019.
Tiền án: Ngày 03-6-2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 (H3) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 14-11-2022.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 14-11-2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 (S1) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong Bản án vào ngày 07-01-2013.
- Ngày 22-7-2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong Bản án vào ngày 10-4-2014.
Bị tạm giữ từ ngày 20-12-2023, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
(Các bị cáo có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cù Tiến H, Nguyễn Hoàng P đều là những người sử dụng trái phép chất ma túy.
Vào khoảng 17 giờ 40 phút ngày 19-12-2023, P nhắn tin qua ứng dụng Zalo nhờ H mua giúp ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng H không đồng ý và rủ P đến nhà H tại địa chỉ: Số B, tổ C, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để nói chuyện. Sau đó P đến nhà H, tại đây P rủ H cùng góp tiền thuê phòng, mua ma túy để cùng nhau sử dụng, H đồng ý và thống nhất H liên hệ đặt mua và trả tiền mua ma túy, còn P trả tiền thuê phòng để tối cùng ngày sẽ cùng nhau sử dụng ma túy.
Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, H điện thoại cho người đàn ông tên Huy L (không rõ lai lịch, địa chỉ) qua số thuê bao 0382831712 để mua ma túy. Sau đó, H đến khu vực “Vòng xoay cổng 11” thuộc phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua của Huy L 01 (Một) gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) và 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá với giá 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) để H và P sử dụng. Khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, H đem theo gói ma túy nêu trên đến thuê phòng số 209 khách sạn “P" địa chỉ tổ F, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai rồi nhắn tin cho P biết địa chỉ khách sạn. Khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, P đến khách sạn “Phương Hưng” trả tiền thuê phòng với giá 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) rồi P lên phòng 209. Tại đây, H lấy gói ma túy và bộ D sử dụng ma túy vừa mua được rồi H và P cùng nhau sử dụng ma túy bằng cách bỏ ma túy vào nỏ thủy tinh, dùng bật lửa đốt nóng nỏ thủy tinh để ma túy hóa hơi rồi hút hơi ma túy vào cơ thể qua đường miệng.
Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 20-12-2023, H và P đang sử dụng ma túy thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đ phối hợp với Công an phường L kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
Quá trình điều tra, Cù Tiến H và Nguyễn Hoàng P khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng vụ án:
- 01 (Một) bộ D sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa, 01 đoạn ống hút nhựa, 01 nỏ thủy tinh và 01 bật lửa) là công cụ để sử dụng ma túy.
- Số chất màu vàng bám trong nỏ thủy tinh (đã được niêm phong gửi giám định).
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus - số Imei 358633091195335 của Nguyễn Hoàng P sử dụng để chuyển tiền thuê địa điểm sử dụng ma túy và liên lạc để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Vivo 1916 - số Imei 865966047390816 của Cù Tiến H sử dụng để liên lạc mua ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 60F1- 675.00 Nguyễn Hoàng P sử dụng làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội: Kết quả điều tra xác định xe mô tô nêu trên do chị Bùi Thị Châu L1 đứng tên chủ sở hữu. Chị L1 đã bán xe cho anh Nguyễn Quang T1 vào khoảng tháng 7 năm 2023, sau đó anh T1 đã bán xe mô tô nêu trên cho chị Nguyễn Thị Kim A vào ngày 11-9-2023. Chị Kim A cho P mượn sử dụng và không biết P sử dụng xe mô tô nêu trên đi tổ chức sử dụng trái phép ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị Kim A.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria biển số 60H1- 267.98 có số khung MH8DL11AZKJ213814, số máy CGA1-ID213879 của Cù Tiến H sử dụng đi thực hiện hành vi phạm tội: Quá trình điều tra, H khai mượn xe mô tô nêu trên của một người tên L2 (không rõ lai lịch). Kết quả điều tra xác định biển số 60H1- 267.98 là của xe mô tô hiệu Honda AriBlade do chị Đào Kim T2 đứng tên đăng ký xe và đang sử dụng. Số khung, số máy nêu trên là của xe mô tô biển số 47E1-529.36 có chủ sở hữu là anh Nguyễn Xuân T3 (sinh năm 1997, ngụ tại thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk), Cơ quan điều tra chưa làm việc được với anh T3. Do chưa làm rõ được nguồn gốc và chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tách xe mô tô hiệu Suzuki Satria nêu trên ra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Tại Kết luận giám định số 2826/KL-KTHS ngày 26-12-2023, Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:
- Mẫu chất màu vàng bám trong nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.
Đối với anh Nguyễn Duy H4 (Sinh năm 1988, ngụ tại lô L, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai – Chủ khách sạn P1) và chị Lại Thị Phương A1 (Sinh năm 1992, ngụ tại lô L, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai – nhân viên khách sạn P1): Anh H4 và chị Phương A1 không biết các bị can H và P đến thuê phòng để sử dụng trái phép chất ma túy nên không xử lý.
Đối với người đàn ông tên Huy L (không rõ lai lịch, địa chỉ) có hành vi bán ma túy: Cù Tiến H khai liên lạc với Huy L để mua ma túy qua số điện thoại 0382.831.xxx, Cơ quan điều tra đang xác minh làm rõ chủ sở hữu số điện thoại nêu trên nhưng chưa có kết quả.
Tại Bản Cáo trạng số 357/CT-VKSBH ngày 14 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Cù Tiến H, Nguyễn Hoàng P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo:
Nguyễn Hoàng P mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
Cù Tiến H mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói sau cùng, bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, hứa cải tạo trở thành người tốt và mong muốn được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
- Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa nêu. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng từ 22 giờ 25 phút ngày 19-12-2023 đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 20-12-2023, tại phòng số 209 khách sạn “P" địa chỉ tổ F, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Cù Tiến H và Nguyễn Hoàng P có hành vi cùng nhau góp tiền mua ma túy và thuê phòng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với nhau thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đ phối hợp với Công an phường L phát hiện bắt quả tang.
P là người khởi xướng và trả tiền thuê phòng để sử dụng ma túy.
H là người mua ma túy và dụng cụ để sử dụng ma túy.
Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, là nguyên nhân và yếu tố tiềm ẩn phát sinh các loại tội phạm khác, làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đời sống cộng đồng, các bị cáo đều có nhân thân xấu, đã bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không lấy làm bài học mà nay lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo P có cha là ông Nguyễn Hoàng S tham gia cách mạng được tặng huân chương kháng chiến hạng ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án, nhận thấy các bị cáo phạm tội thuộc đồng phạm giản đơn, bị cáo P là người rủ rê bị cáo H và trả tiền thuê phòng để sử dụng ma túy, bị cáo H là người chuẩn bị ma túy và tích cực chuẩn bị dụng cụ, địa điểm để sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân của các bị cáo thấy rằng bị cáo P và H đều có nhân thân xấu, bị cáo H trước đây đã từng bị xét xử nhiều lần về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, cho thấy thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo H trước đây đã từng bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” và có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp tái phạm do đó bị cáo H sẽ phải chịu mức án cao hơn bị cáo P.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra cũng như việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. Đồng thời xém xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Đối với anh Nguyễn Duy H4 (Sinh năm 1988, ngụ tại lô L, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai – Chủ khách sạn P1) và chị Lại Thị Phương A1 (Sinh năm 1992, ngụ tại lô L, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai – nhân viên khách sạn P1): Anh H4 và chị Phương A1 không biết các bị cáo H và P đến thuê phòng để sử dụng trái phép chất ma túy, nên không xử lý nên không đặt ra xem xét.
Đối với đối tượng tên Huy L (không rõ lai lịch, địa chỉ) có hành vi bán ma túy: Cù Tiến H khai liên lạc với Huy L để mua ma túy qua số điện thoại 0382.831.xxx, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi có kết quả sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa, 01 đoạn ống hút nhựa, 01 nỏ thủy tinh và 01 bật lửa) là công cụ để sử dụng ma túy.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus – số Imei 358633091195335 của Nguyễn Hoàng P và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Vivo 1916 - số Imei 865966047390816 của Cù Tiến H là công cụ dùng vào việc phạm tội.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh và hình phạt
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng P và Cù Tiến H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20-12-2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Cù Tiến H 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20-12-2023.
- Về xử lý vật chứng
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa, 01 đoạn ống hút nhựa, 01 nỏ thủy tinh và 01 bật lửa) là công cụ để sử dụng ma túy.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus – số Imei 358633091195335 của Nguyễn Hoàng P và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Vivo 1916 - số Imei 865966047390816 của Cù Tiến H là công cụ dùng vào việc phạm tội.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa)
- Về án phí
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng P, Cù Tiến H mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Huyền |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
T5
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Trương Thị Thìn Trần Văn C | Lê Văn T4 |
Bản án số 373/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 373/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
