|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 373/2024/HS-ST Ngày: 08-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Hương Thủy
- Bà Nguyễn Thị Chi
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn D - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 355/2024/TLST/HSST ngày 05 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 408/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Lâm Văn T (tên gọi khác: không), sinh năm 1989, tại: Ninh Thuận; Thường trú: Khu phố K, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Chỗ ở: Số A đường số A, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Trần Văn T1 (chết); Mẹ: Lâm Thị Thu C; Có vợ và 01 người con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 28/3/2024.
(Bị cáo Lâm Văn T có mặt tại phiên tòa).
- - Bị hại: Ông Phạm Hữu K, sinh năm 1998; (vắng mặt)
- Địa chỉ: ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh C1, sinh năm 1994; (vắng mặt)
Địa chỉ: I N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết từ trước nên vào khoảng tháng 3 năm 2024, Lâm Văn T cùng anh Nguyễn Văn Đức S (sinh năm 2005, trú tại số G đường H, phường A, quận A) và ông Phạm Hữu K (sinh năm 1998, trú tại ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long) cùng nhau thuê nhà trọ số A đường số A, khu phố A, phường L, thành phố T để xin việc làm bảo vệ. Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 24/3/2024, T rủ S đi uống cà phê thì S đồng ý. Đi được đoạn đường khoảng 30m thì T nói với S đứng đợi để T quay lại nhà trọ lấy đồ. Về đến phòng, T nhìn thấy ông K đang nằm ngủ, bên cạnh để một điện thoại nhãn hiệu Apple, loại Iphone 14 Pro Max, màu tím. T lén lút lấy trộm điện thoại trên rồi quay lại vị trí anh S đang đứng đợi đi uống cà phê. Được khoảng một lúc, T nói với S đi công việc và thuê xe mô tô G đến cửa hàng điện thoại di động “Minh Châu”, địa chỉ số I, N, phường L, thành phố T do ông Nguyễn Minh C2 (sinh năm 1994) làm chủ. Tại đây T nói với ông C2 muốn bán điện thoại với giá 3.000.000 đồng thì ông C2 có hỏi nguồn gốc tài sản nhưng T nói dối là của bạn T cầm đã lâu nhưng không đến chuộc. Cho nên ông C2 đồng ý mua với giá 3.000.000 đồng. Ngày hôm sau T quay lại của hàng ông C2 xin thêm 500.000 đồng thì ông C2 cũng đồng ý. Ngày 26/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T truy xét được T mời về trụ sở làm việc và thu giữ vật chứng có liên quan. Quá trình điều tra, T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Đối với ông Nguyễn Thanh C1 có nhận mua điện thoại di động do bị can T đem đến nhưng không biết rõ đây là tài sản do bị can T phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Kết luận định giá tài sản số: 170-KV3/KL-HĐĐGTS, ngày 29/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: “01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, 128GB có giá trị 18.467.000 đồng”.
Tại bản Cáo trạng số 349/CT-VKS.TPTĐ ngày 03/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Lâm Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lâm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lâm Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Lâm Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Phần dân sự và vật chứng đã giải quyết xong
Bị cáo Lâm Văn T không tranh luận, bào chữa.
Lời sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái và ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo Lâm Văn T phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định: Vì động cơ vụ lợi nên vào ngày 24/3/2024, tại nhà trọ số A đường số A, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Văn T có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 14 Pro Max, màu tím, 128GB giá trị định giá 18.467.000 đồng của ông Phạm Hữu K
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lâm Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
[4] Đối với ông Nguyễn Thanh C1 khi mua điện thoại hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, 128GB không biết là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra không xem xét xử lý hình sự đối với anh C1.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi nhận lại tài sản, ông Phạm Hữu K không yêu cầu bồi thường. Ông Nguyễn Thanh C1 có thiệt hại số tiền 3.500.000 đồng nhưng cũng không yêu cầu bị cáo T bồi thương cho nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, 128GB là tài sản của ông Phạm Hữu K nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro Max có gắn sim số 0909025869 là tài sản của ông Nguyễn Thanh C1 không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông C1
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- - Tuyên bố bị cáo Lâm Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lâm Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2024.
- Ghi nhận bị hại ông Phạm Hữu K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh C1 không yêu cầu bị cáo bồi thường.
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lâm Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Dung |
Bản án số 373/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 373/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
