Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 373/2025/HS-ST

Ngày 26- 6- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Văn Tam

2/ Ông Phan Đăng Khoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư – Cán bộ TAND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện VKS nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Khánh L - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 298/2025/HSST ngày 29 tháng 4 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 373/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: LÊ NGỌC D, sinh năm 2004 tại Cà Mau; Giới tính: Nam.

Nơi thường trú: Ấp K, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Nơi cư trú: D đường số C, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Công nhân. Chức vụ trước khi phạm tội: Không.

Con ông: Lê Văn N, sinh năm 1982 (Còn sống) và bà Lê Ngọc N1, sinh năm 1983 (Còn sống). Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba, chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/01/2025, đến ngày 11/01/2025 chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 93/LTG-ĐTTH ngày 10/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố B. (có mặt).

Bị hại:

1. Anh Huỳnh Phước N2, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Khóm I, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

2. Anh Lê Văn M, sinh năm 2002.

Địa chỉ: Xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Võ Xuân L1, sinh năm 2002.

Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.

2. Chị Vũ Thị T, sinh năm 1982.

Địa chỉ: A, Quốc lộ A, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

(Bị cáo D có mặt; bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do gia đình nợ nần, thiếu tiền tiêu xài, trả nợ nên Lê Ngọc D nảy sinh ý định giả vờ nhắn tin hỏi mua xe của những người đăng bán xe trên mạng xã hội facebook, dùng thủ đoạn gian dối khiến người bán tin tưởng, sau đó tìm cơ hội xin chạy thử xe mô tô rồi chiếm đoạt tài sản. Cụ thể, D đã 02 (hai) lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Lê Ngọc D tham gia nhóm “E” trên mạng xã hội facebook, sử dụng tên người dùng “Bo Hoàng”, D thấy anh Huỳnh Phước N2 (sinh năm 1998, thường trú: Khóm I, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu) đăng lên nhóm muốn bán 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh biển số 94K1-532.21 nên D liên hệ anh N2, giả vờ hẹn xem xe tại khu vực Công viên chiến thắng L thuộc đường B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì được anh N2 đồng ý. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/12/2024, D đón xe ôm từ khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương đi đến Công viên chiến thắng L. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, cả hai gặp nhau, D yêu cầu anh N2 đưa cho D giấy đăng ký xe mô tô biển số 94K1-532.21 để kiểm tra thì được anh N2 đồng ý rồi D giả vờ kiểm tra giấy đăng ký xe có khớp với số khung, số máy của xe không sau đó trả lại giấy tờ xe cho anh N2. Lúc này, để lấy được sự tin tưởng của anh N2, D đưa cho anh N2 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 (điện thoại đã bị hư hỏng) để làm tin xin cho D chạy thử xe mô tô. Quá trình trao đổi, anh N2 tin tưởng nên giao giấy đăng ký xe mô tô và đồng ý cho D chạy thử xe mô tô. D leo lên xe mô tô biển số 94K1-532.21 giả vờ chạy thử rồi bỏ đi về hướng Khu công nghiệp B 2 tẩu thoát. Sau đó, D xóa tài khoản facebook “Bo Hoàng” và đem bán xe mô tô chiếm đoạt được cho 01 (một) người không rõ nhân thân, lai lịch trên mạng xã hội facebook được 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng). Phát hiện bị chiếm đoạt tài sản, ngày 09/01/2025 anh N2 đến Công an phường A, thành phố B trình báo sự việc.

Lần thứ hai: Cùng với thủ đoạn như trên, Lê Ngọc D tạo tài khoản facebook với tên người dùng “Miny Duy” và vào nhóm “E” thì thấy nội dung tài khoản “Công Minh" do anh Lê Văn M (sinh năm: 2002, Thường trú: xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) đăng bán 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu đen nhám, biển số 38G1-019.48 do anh Võ Xuân L1 (sinh năm: 2002, Thường trú: Thôn B, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) – bạn anh M đứng tên chủ sở hữu nhờ anh M bán giùm. D nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô trên nên nhắn tin giả vờ hỏi anh M mua xe và tìm cơ hội để chiếm đoạt. Ngày 30/12/2024 D hẹn anh M đưa xe mô tô cần bán đến Khu công nghiệp B để D xem xe thì được anh M đồng ý.

Đến khoảng 10 giờ ngày 31/12/2024, D đón xe ôm từ khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương đi đến cổng Khu công nghiệp B. Lúc này anh M đang đi làm nên nhắn anh L1 mang xe ra cho D coi trước. Đến khoảng 11 giờ 55 phút cùng ngày, anh L1 điều khiển xe mô tô biển số 38G1-019.48 đến cổng chào Khu công nghiệp B gặp D. Anh L1 chở D đi đến đường F thuộc Khu công nghiệp B để xem xe và đưa cho D 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 38G1-019.48 để kiểm tra giấy tờ xe. Đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, anh M điều khiển xe mô tô biển số 84K1-428.73 đến nơi anh L1 và D đang đứng tại đường F thuộc khu công nghiệp B. Lúc này anh L1 có việc nên mượn xe mô tô biển số 84K1-428.73 của anh M đi công việc và giao xe mô tô biển số 38G1-019.48 lại cho anh M quản lý, chìa khóa xe mô tô biển số 38G1-019.48 vẫn cắm trên ổ khóa điện. D cất giấy đăng ký xe mô tô biển số 38G1-019.48 vào túi áo và xin anh M để D chạy thử xe thì được anh M tin tưởng đồng ý. D leo lên xe mô tô biển số 38G1-019.48 giả vờ chạy thử rồi bỏ đi đến tiệm cầm đồ “Quang Minh 2” tại địa chỉ: D, 4A, Khu B, đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. D đưa cho chị Vũ Thị T (Sinh năm 1982) - chủ tiệm cầm đồ 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 38G1-019.48 và 01 (một) căn cước công dân phô tô mang tên Lê Ngọc D thì được chị T đồng ý cầm cho D số tiền 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng). Lúc này D lấy lại 01 (một) căn cước công dân gốc và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô đã cầm từ trước đó hết số tiền 1.640.000 đồng (Một triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng), số tiền còn lại 14.360.000 đồng (Mười bốn triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) chị T chuyển khoản cho D, sau đó D đón xe ôm đi về phòng trọ và xóa tài khoản Facebook “Miny Duy”. Cùng ngày, phát hiện bị chiếm đoạt tài sản, anh Võ Xuân L1 đến Đồn Công an khu công nghiệp thành phố B trình báo sự việc. Qua xác minh, truy xét Đồn Công an khu công nghiệp thành phố B đã thu hồi xe mô tô biển số 38G1-019.48 và cùng Công an phường A, thành phố B lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B theo thẩm quyền.

Biết hành vi của mình đã bị phát hiện, không thể che giấu, ngày 02/01/2025, Lê Ngọc D đến Công an Đồn Khu công nghiệp B đầu thú. Quá trình điều tra, Lê Ngọc D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Vật chứng của vụ án:

  • 01 (Một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu đen nhám, biển số 38G1-019.48 và 01 (Một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 38G1-019.48 bị chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã thu hồi và trả lại cho anh Võ Xuân L1 theo quy định.
  • 01 (Một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh, biển số 94K1-532.21 và 01 (Một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 94K1-532.21 bị chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiến hành truy tìm nhưng chưa thu hồi được.
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 màu tím đã bị hư hỏng, không sử dụng được, không kiểm tra được bên trong của máy và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Xiaomi, màu đen, số imei 865869054319688 là tài sản của Lê Ngọc D sử dụng làm công cụ phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tạm giữ, chuyển xử lý cùng vụ án.
  • 01 (Một) áo khoác màu xanh có chữ Duanper tạm giữ từ D. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ trả lại cho D do không liên quan đến vụ án.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 13/KL-HĐĐGTS ngày 21/01/2025, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận 01 (Một) xe mô tô biển số 94K1-532.21 bị chiếm đoạt trị giá 22.745.000 đồng (Hai mươi hai triệu bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 03/KL-HĐĐGTS ngày 03/01/2025, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận 01 (Một) xe mô tô biển số 38G1-019.48 bị chiếm đoạt trị giá 33.593.000 đồng (Ba mươi ba triệu năm trăm chín mươi ba nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Anh Võ Xuân L1 đã được nhận lại tài sản, anh Huỳnh Phước N2 đã được D bồi thường số tiền 22.745.000 đồng và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt, chị Vũ Thị T đã được D bồi thường số tiền 14.360.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại Cáo trạng số 320/CT-VKSBH ngày 28/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa đã truy tố bị cáo Lê Ngọc Duy, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Lê Ngọc D về tội danh, điều luật áp dụng nói trên và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc D mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06(sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Xiaomi, màu đen, số imei 865869054319688 là tài sản của D, sử dụng vào việc phạm tội.
  • Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 màu tím đã bị hư hỏng, không sử dụng được, không kiểm tra được bên trong của máy.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

    Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

    Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay là thống nhất, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ.

    Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Từ ngày 18/12/2024 đến ngày 31/12/2024, tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lê Ngọc D đã 02 (hai) lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản: D sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của anh Huỳnh Phước N2 01 (Một) xe mô tô biển số 94K1-532.21 trị giá 22.745.000 đồng (Hai mươi hai triệu bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) và sử dụng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của anh Lê Văn M 01 (Một) xe mô tô biển số 38G1-019.48 trị giá 33.593.000 đồng (Ba mươi ba triệu năm trăm chín mươi ba nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản Lê Ngọc D chiếm đoạt là 56.338.000 đồng (Năm mươi sáu triệu ba trăm ba mươi tám nghìn đồng). Đến ngày 02/01/2025, nhận thấy hành vi của mình là sai trái, Lê Ngọc D đến Công an Đồn Khu công nghiệp B đầu thú về hành vi phạm tội của mình và bị xử lý theo quy định.

    Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

    Qua xem xét nhân thân, hành vi của bị cáo xét thấy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Lê Ngọc D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng căn cứ pháp luật.

  3. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo không có tiền án, tiền sự; được bị hại làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội hai lần(quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự).
  5. Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi tội phạm xảy ra nói riêng và xã hội nói chung. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

    Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

  6. Về xử lý vật chứng:
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Xiaomi, màu đen, số imei 865869054319688 là tài sản của D, sử dụng vào việc phạm tội.
    • Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 màu tím đã bị hư hỏng, không sử dụng được, không kiểm tra được bên trong của máy.
  7. Về trách nhiệm dân sự:

    Anh Võ Xuân L1 đã được nhận lại tài sản, anh Huỳnh Phước N2 đã được D bồi thường số tiền 22.745.000 đồng và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt, chị Vũ Thị T đã được D bồi thường số tiền 14.360.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

  8. Về án phí: Áp dụng Điều 23, 26 và 27 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điềm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Xử phạt bị cáo Lê Ngọc D 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/01/2025.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Xiaomi, màu đen, số imei 865869054319688 là tài sản của D, sử dụng vào việc phạm tội.
    • Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 màu tím đã bị hư hỏng, không sử dụng được, không kiểm tra được bên trong của máy.

    (Tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

  3. Về án phí:

    Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Lê Ngọc D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP Biên Hòa;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai.
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa;
  • - Phân trại tạm giam khu vực B;
  • - Bị cáo; Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Phú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 373/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 373/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc Duy phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger