|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG Bản án số 373/2024/HS-PT Ngày 22 tháng 8 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đặng Kim Nhân
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Cường, bà Trần Thị Kim Liên
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: bà Đoàn Thị Thu Hiền
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Lê Ra - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, phiên tòa công khai theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kết nối điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi để xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 336/2024/TLPT-HS ngày 03/7/2024 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi bị kháng cáo và kháng nghị, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1549a/2024/QĐXXPT-HS ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, đối với:
Bị cáo: Nguyễn Văn T; sinh ngày 23/5/1991 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ G, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nhân viên ngân hàng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn H và bà Phạm Thị Quỳnh H1; vợ là Bùi Thị Cẩm L, sinh năm 1991; có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/11/2022 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo: Trần Thiện C; sinh ngày 13/8/1972 tại tỉnh Quảng Nam; nơi ĐKHKTT: 45 Bà T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở hiện nay: 5 C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.; nghề nghiệp: Mua bán gỗ; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Tích H2 (Chết) và bà Thân Thị Mai H3; vợ là Nguyễn Thị Nguyên T1, sinh năm 1974; có 02 con sinh năm 2000 và 2005; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 31/10/2018 bị Công an huyện T xử phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, ngày 01/11/2018 đã nộp phạt xong.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo Nguyễn Văn T: Luật sư Nguyễn Quốc T2 - Công ty L4 - Chi nhánh Q1; địa chỉ: C N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, Luật sư T2 có mặt.
1
* Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Trần Thiện C: Luật sư Nguyễn Thị Mỹ C1 - Công ty L5, Đoàn luật sư tỉnh Q; địa chỉ: Tầng C, lô N Khu đô thị A, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, Luật sư C1 có mặt.
* Bị hại kháng cáo:
- Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1979; nơi cư trú: B T, tổ H, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
- Ông Nguyễn T3, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
* Bị hại không kháng cáo, nhưng có mặt tại phiên tòa:
Ông Nguyễn Hữu Huy B, sinh năm 1994; nơi cư trú: Hẻm A T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo: bà Nguyễn Thị Bích L2, sinh năm 1968; nơi cư trú: C H, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo: ông Nguyễn H, sinh năm 1961 (cha đẻ bị cáo T) có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T là Nhân viên tín dụng Ngân hàng H9 - Chi nhánh Q1 đến ngày 30/3/2022 thì Triết nghỉ việc. Thông qua mối quan hệ quen biết xã hội, từ năm 2021 đến đầu năm 2022 T đưa ra thông tin Triết cần vay tiền làm thủ tục đáo hạn Ngân hàng cho khách hàng là người quen của T và T có đầu tư kinh doanh bất động sản nên vay được nhiều người cho vay tiền. Sau khi nhận được tiền vay thì T dùng trả nợ xoay vòng và một phần tiêu xài cá nhân, dẫn đến mất khả năng trả nợ, cụ thể:
-
Bà Nguyễn Thị Bích H4 (sinh năm 1969, trú tại: A Đ, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi)
Nguyễn Thị Bích H4 thường giao dịch tại Ngân hàng H9 - Chi nhánh Q1 nên quen biết Nguyễn Văn T. Triết đã nhiều lần vay và trả tiền cho bà H4, chốt đến ngày 02/3/2022 T nợ bà H4 số tiền 3.000.000.000 đồng. Ngày 03/3/2022, T đưa ra thông tin cần mượn bà H4 3.000.000.000 đồng để đáo hạn cho khoản vay của ông Trần Thiện C - Giám đốc Công ty TNHH T12 tại Ngân hàng H9 - Chi nhánh Q1 và cam kết đến ngày 07/3/2022 sẽ đáo hạn ngân hàng và trả lại tiền cho bà H4. Triết đã gửi hình ảnh việc T xử lý món vay cho khách hàng đưa cho bà H4 xem, bà H4 đồng ý và chuyển cho T số tiền 3.000.000.000 đồng, cộng với tiền T còn nợ trước đó tổng cộng là 6.000.000.000 đồng; sau khi nhận tiền, T đã viết giấy mượn tiền thể hiện có mượn của bà H4 số tiền 6.000.000.000 đồng.
Ngày 25/3/2022 bà H4 gọi điện thoại yêu cầu T trả số tiền còn lại thì T đến nhà bà H4, lấy điện thoại gọi cho ông C và nói “em mượn 4,2 tỷ đồng của cô H4 để đáo hạn Ngân hàng cho anh mà anh chưa bổ sung hồ sơ bảo lãnh mà mẹ anh đã từng bảo lãnh tại Ngân hàng H9 - Chi nhánh Q1 cho nên chưa giải ngân trả cho cô H4”, rồi T đưa điện thoại cho bà H4 nói chuyện với ông C, ông C hẹn ngày
2
28/3/2022 sẽ bổ sung đầy đủ hồ sơ ngân hàng giải ngân trả cho bà H4, lúc đó ông C nói nếu ngân hàng không giải ngân thì ngày 28/3/2022 ông C sẽ mượn chỗ khác trả bà H4. Bà H4 chỉ nghe T nói tên C và nói chuyện qua điện thoại chứ từ trước giờ bà H4 chưa gặp ông C, đến ngày 28/3/2022, T đã trả bà H4 được 2.015.000.000 đồng, do không liên lạc được với T nên bà H4 gửi đơn tố giác T có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và yêu cầu T trả số tiền 3.985.000.000 đồng.
Đối với số tiền 3.000.000.000 đồng mà T và bà H4 nhiều lần vay mượn trước đó và chốt nợ ngày 02/3/2022, cả T và bà H4 đều thừa nhận số tiền này là hai bên vay, mượn nhiều lần cộng dồn lại, trong đó có lần T nói đáo hạn ngân hàng, có lần T mượn để xử lý công việc cá nhân, nhưng không xác định được khoản nào là T vay để đáo hạn, khoản nào T mượn xử lý công việc.
Qua điều tra, xác định khi T đưa ra thông tin cần vay tiền để đáo hạn ngân hàng cho khoản vay của ông Trần Thiện C và chiếm đoạt tiền của bà H4 3.000.000.000 đồng ngày 03/3/2022 thì C không biết việc này. Sau khi bị bà H4 nhiều lần đòi nợ, T nhờ C xác nhận đang làm thủ tục đáo hạn ngân hàng để kéo dài thời gian trả nợ và C đồng ý xác nhận như đã nêu.
-
Ông Phạm N (sinh năm 1965 - Giám đốc Công ty TNHH MTV T13, nơi cư trú: A Q, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi)
Thông qua ông Đặng H5, T thường xuyên đặt vấn đề mượn tiền của ông N để mua đất và đáo hạn ngân hàng. Trong khoảng thời gian đầu T mượn và trả đầy đủ, sau đó T tiếp tục mượn tiền của ông N, chốt đến ngày 11/3/2022 T nợ ông N 1.100.000.000 đồng và T đã viết giấy mượn tiền đưa cho ông N giữ, cũng trong ngày T đã chuyển trả đủ tiền cho ông N nhưng T không lấy lại “Giấy mượn tiền”. Sau đó T tiếp tục đưa ra thông tin cần tiền để đáo hạn ngân hàng để vay tiền ông N nên ngày 24/3/2022 ông N đã chuyển khoản cho T số tiền 1.200.000.000 đồng, số tiền này T và ông N thống nhất sử dụng tờ giấy mượn tiền cũ ghi ngày 11/3/2022. Sau khi đưa tiền vài ngày sau thì không liên lạc được với T nên ông N đã gửi đơn tố giác T chiếm đoạt số tiền 1.200.000.000 đồng.
-
Bà Phạm Thị L1 (sinh năm 1979, nơi cư trú: C L, tổ D, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi)
Bà Phạm Thị L1 là khách hàng thường xuyên của Ngân hàng H9 - Chi nhánh Q1 nên quen biết với T và T đã nhiều lần mượn tiền của bà L1 để đáo hạn ngân hàng và trả đúng hẹn. Vào ngày 24/3/2022, Trần Thiện C và Nguyễn Văn T đến nhà bà L1 hỏi vay 1.350.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng cho khoản vay C là Giám đốc Công ty TNHH T12, hẹn 05 ngày sau sẽ trả lại. Bà L1 hỏi khoản vay đã làm thủ tục đăng ký chưa thì C trả lời đã ký hồ sơ rồi, T đưa điện thoại của T cho bà L1 xem hình ảnh thể hiện khoản vay của Công ty TNHH T12, bà L1 nhìn vào thấy đúng khoản vay của Công ty TNHH T12 với số tiền 1.350.000.000 đồng nên tin tưởng và đồng ý cho C mượn tiền, số tiền này C bảo bà L1 chuyển vào số tài khoản của T để kế toán của C lên rút tiền mặt nộp vào tài khoản của Công ty cho C, rồi C viết vào “Hợp đồng mượn tiền” nội dung Chí mượn bà L1 1.350.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng, có Triết ký tên làm chứng Hợp đồng, sau khi viết giấy mượn tiền xong bà L1 đã chuyển 04 lần với tổng số tiền 1.350.000.000 đồng vào tài khoản của T. Sau khi bà L1 chuyển xong số tiền trên cho T thì T xác nhận qua
3
tài khoản Zalo của bà L1 là đã nhận đủ 1.350.000.000 đồng đáo hạn món vay của C, vài phút sau Triết nhắn tin Zalo cho bà L1, Triết gửi ảnh màn hình cuộc trò chuyện giữa Triết với C nội dung: “chứ chỗ a H6 ảnh nói e nhận đủ 1 tỷ 350 của chị L1 rồi, anh cho kế toán lên nhé để e làm thủ tục thu nợ, thứ 2 e giải ngân chuyển trả, C nhắn tin trả lời OK”. Đến ngày 28/3/2022 là thời hạn mà T và C hẹn trả tiền cho bà L1 nên bà L1 đến ngân hàng để đợi giải ngân, nhưng T và C nói bà L1 đợi vì hạch toán rồi nhưng hội sở chưa chuyển. Ngày 29/3/2022 bà L1 tiếp tục lên ngân hàng đợi thì T gửi tin nhắn Zalo cho bà L1 thể hiện hình ảnh mã xử lý của ngân hàng đang xử lý khoản vay của Công ty TNHH T12 số tiền 1.350.000.000 đồng. Bà L1 tưởng thật nên tiếp tục đợi đến ngày 30/3/2022 nhưng vẫn chưa thấy giải ngân nên bà L1 đến gặp Giám đốc ngân hàng hỏi thì được biết không có hồ sơ giải ngân của Công ty TNHH T12. Sau đó bà L1 không liên lạc được với T nên đã gửi đơn tố giác T và C có hành vi lừa đảo chiếm đoạt 1.350.000.000 đồng.
-
Ông Nguyễn T3 (sinh năm 1972, nơi cư trú: thôn N, xã N, tỉnh Quảng Ngãi)
Thông qua bà Phạm Thị Ái L3 nên ông Nguyễn T3 quen biết Triết. Ngày 28/3/2022 T gặp ông T3 và L3 tại quán cà phê M ở Phường L, tại đây T hỏi mượn ông T3 số tiền 600.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng cho khách hàng, do T hứa mượn 02 ngày sẽ trả, ông T3 đồng ý và đã nhờ người chuyển tiền vào tài khoản cho L3 và L3 đã chuyển khoản cho T số tiền 600.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền T viết “giấy mượn tiền”, 02 ngày sau ông T3 gọi điện thoại cho T để yêu cầu trả tiền nhưng không liên lạc được nên ông T3 gửi đơn tố cáo T có hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 600.000.000 đồng.
-
Ông Phạm Nguyễn Đạt N1 (sinh năm 1984, nơi cư trú: G A, Phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi)
Phạm Nguyễn Đạt N1 và Nguyễn Văn T quen biết với nhau, vào ngày 07/3/2022 T giới thiệu N1 gặp ông Nguyễn Sinh T4 để N1 vay T4 số tiền 3.950.000.000 đồng làm ăn. Ông T4 đồng ý nên đã chuyển cho N1 số tiền 3.550.000.000 đồng, vì T còn nợ T4 số tiền 400.000.000 đồng nên giữa T và T4 thống nhất số tiền này T sẽ chuyển cho N1, sau khi nhận tiền N1 viết giấy thể hiện có mượn của ông T4 số tiền 3.950.000.000 đồng và hẹn đến ngày 11/3/2022 sẽ trả lại số tiền trên cho ông T4, nhưng sau đó T vẫn chưa chuyển số tiền 400.000.000 đồng cho N1.
Đến ngày 11/3/2022, T biết N1 nhận được tiền vay từ ngân hàng E nên T gặp N1 đưa ra thông tin cần vay tiền làm đáo hạn ngân hàng cho khách hàng để hỏi vay N1 3.950.000.000 đồng, N1 đồng ý và chuyển cho T 3.550.000.000 đồng; số tiền còn lại T và N1 thỏa thuận trừ 50.000.000 đồng Triết còn nợ N1 trước đó cộng với 400.000.000 đồng Triết chưa trả cho ông T4. Triết đã viết giấy mượn tiền thể hiện có mượn của N1 số tiền 3.950.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng và giao cho N1 giữ giấy này. Sau đó, T đã trả cho ông N1 400.000.000 đồng, hiện nay Triết chưa trả cho ông N1 3.200.000.000 đồng nên ông Nhân tố giác T5 có hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 3.200.000.000 đồng. Đối với số tiền vay mượn giữa ông N1 và ông T4 thì hai bên đã tự thỏa thuận giải quyết.
4
-
Ông Nguyễn Sinh T4 (sinh năm 1985, nơi cư trú: C N, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi)
Ông Nguyễn Sinh T4 thường hay giao dịch tại Ngân hàng H9 - Chi nhánh Q1 nên quen biết Triết. Trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến cuối năm 2021 ông T4 nhiều lần đưa tiền cho T5 vay mượn và T5 cũng đã trả cho ông T4 đầy đủ đúng hạn. Đến ngày 27/12/2021 T5 tiếp tục hỏi vay ông T4 700.000.000 đồng để mua thửa đất ở xã T, huyện S và ông T4 đã đồng ý nên chuyển khoản cho T5 700.000.000 đồng, đồng thời ông T4 yêu cầu T5 phải đưa cho T4 giữ tài sản của T5 để đảm bảo số tiền vay mượn trên nên vào ngày 29/12/2021 T5 đã làm Hợp đồng ủy quyền cho ông T4 thửa đất số 277, tờ bản đồ số 38, diện tích 163,4m², địa chỉ thửa đất: Tổ D, Phường L, thành phố Q tại Văn phòng công chứng Ngô Văn H7 và giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất trên cho ông T4 giữ. Đến khoảng đầu năm 2022 T5 tiếp tục đặt vấn đề vay ông T4 số tiền 1.550.000.000 đồng và đưa ra thông tin gian dối để làm đáo hạn cho khoản vay của bà Nguyễn Thị X (sinh năm 1971, nơi cư trú: T, thành phố Q) là mợ của T5 và hứa vài ngày sau sẽ trả. Ông T4 đồng ý nên ngày 14/01/2022 đã chuyển khoản cho T5 số tiền 1.550.000.000 đồng; sau đó, T5 đã trả cho T4 200.000.000 đồng, còn lại 2.050.000.000 đồng Triết vẫn chưa trả cho Thái
Triết nại ra lý do cha Triết cần xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để hỏi mượn lại Giấy chứng nhận mà T6 đã đưa cho ông T4 giữ và hứa sẽ trả lại cho ông T4 nên ông T4 đã đưa cho T6 Giấy chứng nhận này. Sau khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Triết đã lập hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 277 cho vợ chồng ông Trần Đình P bà Nguyễn Thị T7 vào ngày 29/3/2022. Đến ngày 13/5/2022 ông T4 được biết T6 đã chuyển nhượng thửa đất số 277 cho người khác nên gửi đơn tố giác T6 có hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 2.050.000.000 đồng. Ông Phạm Xuân T8 - Trưởng văn phòng C3 và ông Đặng Văn B1 - Công chứng viên khai nhận vào ngày 29/3/2022 ông B1 là Công chứng viên trực tiếp kiểm tra hồ sơ và ký chứng nhận vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 277 giữa Nguyễn Văn T với ông Trần Đình P. Khi tiến hành chứng thực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này, ông B1 đã không tiến hành kiểm tra hệ thống cơ sở dữ liệu về tình trạng của tài sản nên không biết trước đây T đã lập hợp đồng ủy quyền đối với thửa đất số 277 cho ông T4. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q đã có Công văn số 442/CV ngày 27/3/2023 đề nghị tạm dừng việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 277.
-
Ông Nguyễn Hữu Huy B (sinh năm 1994, nơi cư trú: phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi)
Ông Nguyễn Hữu Huy B và T cùng làm việc tại Ngân hàng H9 Chi nhánh Q1. Ngày 15/3/2022 T đưa ra thông tin gian dối là cần tiền mua lô đất ở xã T, thành phố Q để mượn B số tiền 800.000.000 đồng và T hứa sau khi mua được lô đất này thì sẽ thế chấp lô đất để vay tiền và trả tiền cho B nên B đồng ý và chuyển 800.000.000 đồng cho T. Khi nhận tiền T có viết 01 giấy mượn tiền giao cho B. Khi đến hạn trả nợ, B hỏi thì T nói không có mua lô đất ở xã T nhưng đang thế chấp một lô đất khác của T để vay tiền, hồ sơ đang gửi ngân hàng E, T hứa sau khi vay được tiền sẽ trả tiền cho B và tạo giả hình ảnh tin nhắn giữa T và một người
5
bên ngân hàng để gửi cho B. Khi T nghỉ việc tại ngân hàng H10 mà không trả lại tiền nên B gửi đơn tố giác T có hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 800.000.000 đồng.
* Kết quả trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết tại các Giấy vay mượn tiền thể hiện: Tại Bản kết luận giám định số 738/KL-KTHS ngày 09/8/2022; số 1115/KL-KTHS, ngày 25/12/2022; số 349/KL-KTHS, ngày 31/3/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh, kết luận: chữ ký và chữ viết trong các giấy mượn tiền do các bị hại cung cấp đều là chữ ký và chữ viết của Nguyễn Văn T.
* Văn bản số 25/CV/CNQNg của Ngân hàng H9 - Chi nhánh Q1 cung cấp xác định nội dung:
- Nguyễn Văn T nguyên là Chuyên viên Quan hệ khách hàng Doanh nghiệp thuộc bộ phận khách hàng Doanh nghiệp của H9 chi nhánh Q1. Triết đã nghỉ việc kể từ ngày 30/3/2022.
- Vợ chồng ông Nguyễn H, bà Phạm Thị Quỳnh H1, Nơi cư trú phường N, Thành phố Q hiện có dư nợ tại Ngân hàng H9 chi nhánh Q1.
- Ông Trần Thiện C, sinh ngày 13/8/1972, Nơi cư trú phường N, thành phố Q hiện không có dư nợ tại Ngân hàng H9 chi nhánh Q1.
- Mã xử lý L2203171058K không phải là mã hồ sơ khoản vay của khách hàng Công ty TNHH T12, Công ty TNHH T12 chưa có bất kỳ giao dịch nào với H9 Chi nhánh Q1.
* Qua nội dung sao kê tài khoản ngân hàng của Nguyễn Văn T và Cơ quan điều tra tiến hành xác minh với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã cho T vay, xác định: Ngoài vay mượn tiền của 7 người tố giác nêu trên thì T còn vay tiền của rất nhiều người khác như: Bà Huỳnh Thị Phương S (sinh năm 1968, nơi cư trú: N, xã N, huyện T), bà Lương Thị N2, bà Nguyễn Thị Bích L2, bà Nguyễn Thị K, bà Phạm Thị H8 (sinh năm 1966, nơi cư trú: Tổ I, phường Q, thành phố Q), bà Đoàn Huỳnh Thị Thúy K1, bà Ngô Thị Thùy Q, ông Bạch Thanh T9, ông Trần Duy N3, bà Nguyễn Thị Thu T10... nhưng những người này không gửi đơn tố giác. Ngoài ra, trong sao kê tài khoản ngân hàng của T còn thể hiện T nhận tiền của người này trả cho người kia và trả cho chính người cho vay đối với khoản vay trước đó, cứ xoay vòng liên tục (vay trả xoay vòng).
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T thừa nhận thực tế T không làm thủ tục đáo hạn ngân hàng cho bất kỳ khoản vay nào hay mua đất như thông tin đã đưa ra cho các ông bà trên, vì muốn có tiền để trả nợ cho những khoản vay của mình Triết đưa ra thông tin gian dối để các ông bà này cho T vay mượn tiền. Sau khi nhận được tiền T dùng để trả nợ xoay vòng cho nhiều người và một phần tiêu xài cá nhân. Đối với Trần Thiện C cũng thừa nhận việc đưa ra thông tin Công ty TNHH T12 do C làm Giám đốc cần tiền để làm thủ tục đáo hạn tại ngân hàng H9 - Chi nhánh Q1 là không có thật, nhưng để giúp Triết ông C đã đưa ra thông tin gian dối để bà L1 tin tưởng chuyển tiền cho T.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 20/5/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi quyết định:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Thiện C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
6
- Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 21/11/2022.
- Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thiện C 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
2. Về phần trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự:
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải trả cho những người bị hại số tiền 6.960.000.000 đồng; cụ thể như sau:
- + Trả cho ông Phạm N số tiền 1.160.000.000 đồng.
- + Trả cho bà Phạm Thị L1 số tiền 1.245.000.000 đồng.
- + Trả cho ông Nguyễn T3 số tiền 600.000.000 đồng.
- + Trả cho ông Phạm Nguyễn Đạt N1 số tiền 3.200.000.000 đồng.
- + Trả cho ông Nguyễn Hữu Huy B số tiền 755.000.000 đồng.
- Buộc ông Nguyễn H và bà Phạm Thị Quỳnh H1 trả cho bà Nguyễn Thị Bích H4 số tiền 20.000.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chậm thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi suất theo qui định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với khoản tiền và thời gian chậm thi hành án, cho đến khi thi hành xong.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Tiếp tục tạm giữ số tiền 30.000.000 đồng gia đình bị cáo Nguyễn Văn T đã nộp tại Cơ quan điều tra để đảm bảo thi hành án (theo Ủy nhiệm chi lập ngày 21/12/2023 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Q).
4. Về án phí:
Các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Thiện C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 114.960.000 đồng (Một trăm mười bốn triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn H và bà Phạm Thị Quỳnh H1 phải chịu 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 41/QĐ-VC2 ngày 12/6/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị bản án sơ thẩm cho rằng Triết và Chí đều là người thực hành tội phạm lừa đảo chiếm đoạt của bị hại Phạm Thị L1 số tiền 1.350.000.000đồng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng
7
C là đồng phạm giản đơn với vai trò giúp sức không đáng kể từ đó áp dụng khoản 2 Điều 54 xử phạt bị cáo C 2 năm 6 tháng tù là áp dụng không đúng pháp luật, hình phạt nhẹ nên đề nghị tăng hình phạt trong khung 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.
- Bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm hình phạt.
- Bị cáo Trần Thiện C kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.
- Bị hại Phạm Thị L1 kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với hai bị cáo, đề nghị buộc Triết C2 liên đới bồi thường cho bà L1 1.245.000.000 đồng, đề nghị hủy Hợp đồng Triết ủy quyền cho ông Nguyễn Sinh T4 và hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 277, tờ bản đồ 38, diện tích 163,4m² tại tổ D, phường L, TP Q giữa Triết với vợ chồng ông Trần Đình P, bà Nguyễn Thị T7 để dùng tài sản này thi hành án bồi thường cho bà L1.
- Bị hại Nguyễn T3 kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt với bị cáo Nguyễn Văn T, đề nghị hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 277, tờ bản đồ 38, diện tích 163,4m² tại tổ D, phường L, TP Q giữa Triết với vợ chồng ông Trần Đình P, bà Nguyễn Thị T7 để dùng tài sản này thi hành án bồi thường cho ông T3.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Bích L2 kháng cáo yêu cầu Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn T trả bà L2 3.480.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ông Nguyễn H cha bị cáo trình bày sau khi xét xử sơ thẩm, do con là bị cáo T tác động về gia đình nên ông H đã bồi thường thêm cho bị hại Nguyễn T3 30.000.000 đồng (nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi, gửi kèm Biên lai) và bồi thường đủ cho bị hại Nguyễn Hữu D B số tiền Tòa sơ thẩm buộc bồi thường là 755.000.000 đồng, tại phiên tòa phúc thẩm bị hại Nguyễn Hữu Duy B2 có mặt xác nhận việc này.
- Người kháng cáo giữ nguyên các nội dung kháng cáo.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo T đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo T11. Luật sư bào chữa cho bị cáo C2 đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa phúc thẩm hôm nay, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, Thẩm phán, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ khi tham gia tô tụng.
- + Về nội dung:
- Đề nghị giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
- Đối với bị cáo Trần Thiện C thì đề nghị chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng là không áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự và tăng hình phạt đối với bị cáo C trong khung 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
- Đề nghị không chấp nhận các nội dung kháng cáo khác của các bị hại (Phạm Thị L1, Nguyễn T3) và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích L2.
8
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy:
[1] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Trần Thiện C thừa nhận có hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm xác định đó là lợi dụng các mối quan hệ quen biết từ khi bị cáo Nguyễn Văn T còn làm nhân viên Ngân hàng H9 - Chi nhánh Q1, vì muốn có tiền để trả nợ xoay vòng và tiêu xài cá nhân, bị cáo T đã đưa ra các thông tin gian dối như đang cần tiền thực hiện thủ tục đáo hạn ngân hàng hoặc đầu tư bất động sản để vay tiền của những người bị hại, làm những người bị hại tin tưởng giao tiền cho bị cáo, sau đó bị cáo T chiếm đoạt. Với thủ đoạn trên, trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến đầu năm 2022, bị cáo T đã vay tiền và chiếm đoạt của 07 người bị hại gồm bà Nguyễn Thị Bích H4 3.000.000.000 đồng, ông Phạm N 1.200.000.000 đồng, bà Phạm Thị L1 1.350.000.000 đồng, ông Nguyễn T3 600.000.000 đồng, ông Phạm Nguyễn Đạt N1 3.200.000.000 đồng, ông Nguyễn Sinh T4 2.050.000.000 đồng, ông Nguyễn Hữu Huy B 800.000.000 đồng, tổng số tiền chiếm đoạt 12.200.000.000 đồng. Bị cáo Trần Thiện C giúp bị cáo Nguyễn Văn T đưa ra thông tin gian dối cần đáo hạn ngân hàng để bị cáo T chiếm đoạt của bà Phạm Thị L1 số tiền 1.350.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo T và bị cáo Chí phạm “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng tội danh, đúng khung hình phạt.
[2] Xét hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T thấy: bị cáo T là người chủ mưu, thực hành trong vụ án, là người trực tiếp đưa ra thông tin gian dối để vay tiền của những người bị hại rồi chiếm đoạt toàn bộ số tiền 12.200.000.000 đồng của 7 người bị hại để sử dụng nên T phải chịu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm bồi thường cho các bị hại toàn bộ số tiền chiếm đoạt 12.200.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xét bị cáo T phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và xét bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường những người bị hại; được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và gia đình bị cáo T có công với cách mạng nên đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T 10 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên không chấp nhận kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo T của người bị hại. Xét, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo T đã tác động gia đình bồi thường thêm cho bị hại Nguyễn T3 30.000.000 đồng nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi theo Biên lai thu tiền số 0002494 ngày 12/8/2021 và bồi thường cho bị hại Nguyễn Hữu Duy B2 đủ số tiền 755.000.000 đồng theo quyết định của bản án sơ thẩm, bị hại Nguyễn Hữu Duy B2 có mặt tại phiên tòa phúc thẩm xác nhận việc này, đây là tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh sau khi xét xử sơ thẩm nên cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo T giảm cho bị cáo T một phần hình phạt.
[3] Xét hình phạt đối với bị cáo Trần Thiện C thấy: bị cáo C chỉ tham gia cùng T một lần lừa đảo chiếm đoạt tiền của Phạm Thị L1, trước khi C tham gia
9
cùng T lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà L1 thì bà L1 đã là khách hàng thường xuyên cho T (Nhân viên Ngân hàng H9 - Chi nhánh Q1) vay tiền làm thủ tục đáo hạn Ngân hàng và bà L1 đều được T trả tiền gốc, lãi đúng hẹn nên bà L1 hoàn toàn tin tưởng vào Triết, bà L1 chuyển khoản 1.350.000.000 đồng vào tài khoản của T và T là người sử dụng toàn bộ số tiền này; vì các lý do trên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định C là người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể từ đó áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với C là có cơ sở, đúng pháp luật. Xét, bị cáo C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mặc dù C không được hưởng tiền chiếm đoạt của bà L1 nhưng C đã tác động gia đình bồi thường cho bà L1 45.000.000 đồng được bà L1 xin giảm nhẹ hình phạt cho C nên C được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và được áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt, nhưng số tiền C giúp sức cho T chiếm đoạt của bà L1 lớn nên mức hình phạt 2 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo C là chưa nghiêm, chưa có tính răn đe, phòng ngừa chung nên cấp phúc thẩm xét cần chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tăng hình phạt đối với bị cáo C.
[4] Xét nội dung kháng cáo của bị hại Phạm Thị L1 và bị hại Nguyễn T3 yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 277, tờ bản đồ số 38, diện tích 163,4m², tại tổ D, Phường L, thành phố Q cho vợ chồng ông Trần Đình P, bà Nguyễn Thị T7 thấy sau khi bị cáo T làm Hợp đồng ủy quyền và giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 277 nêu trên cho ông Nguyễn Sinh T4 thì T mượn lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 277 từ ông T4, rồi T và đến Văn phòng Công chứng Phạm Xuân T8 lập Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 277 cho vợ chồng ông Trần Đình P và bà Nguyễn Thị T7 ngày 29/3/2022. Tại giai đoạn điều tra bổ sung, bị cáo T và ông Nguyễn Sinh T4 đều khai nhận, mặc dù T giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hợp đồng ủy quyền cho ông T4, nhưng nếu T có nhu cầu chuyển nhượng thửa đất thì hoàn toàn có thể chuyển nhượng cho người khác; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định việc Triết chuyển nhượng thửa đất 277 nêu trên cho vợ chồng ông P, bà T7 không có dấu hiệu gian dối chiếm đoạt tài sản của vợ chồng ông P, bà T7 nên xác định tranh chấp liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 277 sẽ được xem xét bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu là có căn cứ, đúng pháp luật nên không chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị hại Phạm Thị L1 và bị hại Nguyễn T3.
[5] Xét nội dung kháng cáo của bị hại Phạm Thị L1 yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm buộc Trần Thiện C liên đới cùng bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường số tiền còn lại cho bị hại L1, cấp phúc thẩm thấy: bị cáo T chiếm hưởng toàn bộ số tiền 1.350.000.000 đồng bà L1 chuyển vào tài khoản của T, nhưng C cũng đã có thiện chí tác động gia đình bồi thường cho bà L1 45.000.000 đồng; do đó, số tiền còn lại 1.245.000.000 đồng Tòa án cấp sơ thẩm buộc mình bị cáo T bồi thường cho bà L1 là có cơ sở, đúng pháp luật nên không chấp nhận nội dung kháng cáo này của bà L1.
[6] Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích L2 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T trả bà L2 3.480.000.000 đồng thấy qua sao
10
kê tài khoản ngân hàng của T, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã cho T vay tiền xác định ngoài vay mượn tiền của 7 người có đơn tố giác thì T còn vay tiền của rất nhiều người khác trong đó có bà Nguyễn Thị Bích L2, nhưng những người này không gửi đơn tố giác và không có yêu cầu giải quyết trong vụ án nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét mà nhận định những người này có quyền khởi kiện vụ án dân sự để được giải quyết là đúng pháp luật; do đó, cấp phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo của bà L2.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Số tiền bị cáo T tác động gia đình bồi thường cho các bị hại sau khi xét xử sơ thẩm sẽ được xem xét trong quá trình thi hành án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi như sau:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 9 (chín) năm 6 (sáu) tháng tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/11/2022.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thiện C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Kim Nhân |
11
Bản án số 373/2024/HS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 373/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi như sau: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 9 (chín) năm 6 (sáu) tháng tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/11/2022. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thiện C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án
