TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 373/2024/DS-PT Ngày: 14-8-2024 V/v: “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Sang.
Các Thẩm phán:
Bà Đặng Thị Đồng;
Bà Phạm Thị Hồng Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Anh Thư- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 231/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024, về việc “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất”; do Bản án dân sự sơ thẩm số: 70/2024/DS-ST, ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 325/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 7 năm 2024; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Ông Võ Văn L, sinh năm 1975; địa chỉ: Số C, Đường C, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có uỷ quyền.
- Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1976; địa chỉ: Khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có uỷ quyền.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Lưu Thanh S, sinh năm 1960; địa chỉ: Số B, ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thủy T, sinh năm 1978; Ông Trần Minh T1, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp N, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà T: Ông Trần Minh T1, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp N, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; ông T1 có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trần Minh T1: Ông Phan Văn V là Luật sư của Văn phòng L1 (PHANVILAW) thuộc Đoàn luật sư tỉnh T; có mặt.
- Người kháng cáo: Ông Trần Minh T1, bà Nguyễn Thị Thủy T2 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 06 tháng 11 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện uỷ quyền thống nhất trình bày:
Vào năm 2019 ông Võ Văn L và ông Nguyễn Hữu H có nhận sang nhượng phần đất diện tích 1251,3m² thửa số 527, tờ bản đồ số 28, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04498, số phát hành CS 241227 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 15/8/2019. Khi nhận chuyển nhượng đất hiện trạng chưa có xây tường rào, chỉ có hàng rào kẽm gai, có tiến hành đo đạc đúng và đủ diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vào năm 2021, ông L, ông H cho đổ đất lắp bằng mặt đất thì hiện trạng vẫn còn như cũ (có bản ảnh kèm theo);
Vào năm 2023 khi Trung tâm phát triển quỹ đất Huyện D thực hiện việc đo đạc bồi thường thu hồi đất thuộc dự án đường M, Huyện D với T, thị xã H thì phát hiện ông T1, bà T2 đã xây tường rào lấn chiếm qua đất của ông H, ông L. Cụ thể qua kết quả đo đạc của Công ty TNHH Đ đã được Văn phòng Đ1 chi nhánh Huyện D thẩm định, xác định diện tích đất tranh chấp là 128,8m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H và ông L nhưng ông T1, bà T2 lấn chiếm để xây dựng tường rào.
Nay ông H, ông L khởi kiện yêu cầu ông T1, bà T2 có trách nhiệm tháo dỡ hàng rào và công trình trên đất trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 128,8m². Trong trường hợp ông T1, bà T2 muốn giữ nguyên hiện trạng thì hoàn lại cho ông L, ông H giá trị đất với số tiền 600.000.000 đồng và công nhận quyền sử dụng đất 128,8m² là của ông T1, bà T2.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần Minh T1 và bà Nguyễn Thị Thủy T trình bày:
Phần đất thửa số 963, tờ bản đồ số 4, diện tích 360m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số HD 718959 cấp ngày 27/11/2011 do Nguyễn Thị T3 Tuyên
đứng tên; có nguồn gốc mẹ vợ ông T1 tặng cho riêng vợ ông là bà Nguyễn Thị Thủy T2 và phần đất thửa số 40 tờ bản đồ số 28, diện tích 1.886,4m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT042816 cấp ngày 19/12/2019 do bà Nguyễn Thị Thủy T, ông Trần Minh T1 đứng tên; có nguồn gốc do vợ chồng ông nhận chuyển nhượng lại của bà dì vào năm 2009.
Năm 2018 ông T1 có cấm trụ xi măng làm ranh xung quanh đất. Khoảng năm 2019 đến năm 2020 ông cho xây tường rào cao 2,5m bao quanh hết đất hiện trạng như ngày nay. Khi xây dựng tường rào kiên cố thì ông có thuê công ty T6 đo đạc và xác định vị trí đất để xây dựng. Trước khi xây dựng ông có điện thoại cho ông L (thời gian chính xác ông không nhớ) để trao đổi về việc tứ cận đất giáp ranh thì ông L trả lời không biết nên ông cho xây dựng và trong quá trình xây dựng thì không ai có ý kiến. Khi xây tường rào không gặp được chủ đất giáp ranh nên ông bà căn cứ vào diện tích đất đã được cấp giấy mà xây. Ông được biết phần đất chuyển nhượng cho ông H, ông L đã sang tay cho nhiều người, khi nhận chuyển nhượng đất không có đo đạc thực tế mà chỉ chuyển nhượng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên khi đo đạc lại diện tích không đủ.
Ông thống nhất kết quả đo đạc của Công ty TNHH Đ đã được Văn phòng Đ1 chi nhánh Huyện D thẩm định xác định diện tích đất tranh chấp là 128,8m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H và ông L và hiện nay ông bà đang sử dụng;
Tại phiên toà sơ thẩm, ông T1 không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn vì ông không có lấn đất; nếu nguyên đơn muốn giữ lại hiện trạng ranh cũ như trước thì hỗ trợ cho ông số tiền 150.000.000 đồng để ông xây lại hàng rào. Trong quá trình hoà giải tại cấp sơ thẩm, thì ông bà đồng ý hỗ trợ cho ông H, ông L số tiền 400.000.000 đồng và giữ nguyên hiện trạng, công nhận quyền sử dụng đất 128,8m² là của ông T1, bà T; lý do là ông bà nghĩ chịu bồi thường thay cho em ruột là người chuyển nhượng đất cho ông L, ông H nhưng do nguyên đơn không đồng ý nên ông bà không còn giữ kiến này.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 70/2024/DS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn L và ông Nguyễn Hữu H về “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất” đối với ông Trần Minh T1 và bà Nguyễn Thị Thủy T2.
Buộc ông T1, bà T2 có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời tài sản trên đất (bao gồm: tường rào hiện hữu có tổng chiều dài là 60,07 mét, bao gồm hai đoạn: đoạn tiếp giáp thửa số 40, tờ bản đồ số 28 dài 39,50 mét và đoạn tiếp giáp thửa số 963, tờ
bản đồ số 4 dài 28,57 mét; kết cấu móng bê tông cao 0,5 mét và tường xây tô cao 2 mét, trên có lưới B40 cao 0,7 mét; một phần nhà kho diện tích 209,2m² tháo dỡ di dời được; trụ bồn nước diện tích 0,7m² và 01 giếng khoang sâu 25 mét) để trả lại cho ông L, ông H diện tích 128,8m² thuộc thửa số 527, tờ bản đồ số 28, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04498, số phát hành CS 241227 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 15/8/2019 do ông Võ Văn L và ông Nguyễn Hữu H đứng tên (có sơ đồ hiện trạng kèm theo)
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 06-6-2024 bị đơn ông Trần Minh T1, bà Nguyễn Thị Thủy T2 kháng cáo bản án sơ thẩm; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Trần Minh T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, Luật sư Phan Văn V trình bày luận cứ bảo vệ:
Qua kết quả đo đạc theo sơ đồ hiện trạng thì cả 02 diện tích đất đều bị thiếu; trong khi đó diện tích đất nguyên đơn nhận chuyển nhượng thì không đúng diện tích. Hiện trạng hàng rào đã có từ trước, bị đơn chỉ xây cao lên. Do trước đây đo đạc bằng phương pháp thủ công nên diện tích 02 bên đều không chính xác. Bị đơn không có lấn chiếm đất của nguyên đơn, bị đơn đã sử dụng đất tranh chấp từ trước đến nay. Phía nguyên đơn nhận chuyển nhượng nhưng không có đo đạc, không xác định được tứ cận. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về trách nhiệm đối với việc chỉnh lý bản đồ địa chính theo quy định tại các Thông tư 24, 25 năm 2014 của Bộ T7, thực hiện Luật Đất đai 2013; theo quy định thì trước khi chuyển nhượng người mua phải khảo sát diện tích, vị trí; đo vẽ lại sơ đồ đất, ký tứ cận, sau đó mới ra bản đồ địa chính chính thức trong hồ sơ chuyển nhượng. Nguyên đơn nhận chuyển nhượng nhiều năm trước, sau đó mới đo đạc lại, cho rằng bị đơn lấn đất và khởi kiện là không đúng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tôn trọng ranh giới theo hiện trạng sử dụng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ
luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa;
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 70/2024/DS-ST ngày 28-5-2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, luận cứ của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn ông Võ Văn L và ông Nguyễn Hữu H vắng mặt có ủy quyền cho người đại diện là ông Lưu Thanh S tham gia phiên tòa. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định của pháp luật.
[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06-6-2024 bị đơn ông Trần Minh T1 đồng thời đại diện cho bà Nguyễn Thị Thủy T2 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Qua xem xét, Đơn kháng cáo của ông T1 trong thời hạn luật định và hợp pháp theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Trần Minh T1, bà Nguyễn Thị Thủy T; Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSĐ) của ông Võ Văn L và ông Nguyễn Hữu H do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ1- chi nhánh D cung cấp thể hiện: Phần đất diện tích 1251,3m² thuộc thửa số 527, tờ bản đồ số 28; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSĐ), vào sổ cấp GCNQSĐ số CS04498, số phát hành CS 241227 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 15/8/2019 cho ông Võ Văn L và ông
Nguyễn Hữu H đứng tên, có nguồn gốc do ông L, ông H nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Mỹ T4 (là em gái ruột của bà Nguyễn Thị Thủy T2). Bà Mỹ T4 chuyển nhượng cho ông L, ông H bao gồm 02 phần đất có tổng diện tích là 1251,3m² (thửa 46, tờ bản đồ số 28, diện tích 836m² và thửa 362, tờ bản đồ số 28, diện tích 415,3m²); theo 02 GCNQSĐ của bà Mỹ T4 đứng tên, có trích lục bản đồ địa chính ngày 25-7-2019 kèm theo. Sau khi nhận chuyển nhượng QSÐ ông L, ông H có đơn yêu cầu cấp lại, cấp đổi GCNQSÐ do hợp 02 thửa đất nêu trên. Do đó, ngày 15/8/2019 ông Võ Văn L và ông Nguyễn Hữu H được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp GCNQSÐ với diện tích 1251,3m² thuộc thửa số 527, tờ bản đồ số 28; đất toạ lạc tại ấp N, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Do đó, diện tích đất của ông L, ông H không thay đổi sau khi nhận chuyển nhượng và hợp thửa. Qua đo đạc thực tế diện tích đất của ông L, ông H còn lại 1.069,8m²; giảm 181,5m²; nguyên nhân giảm do không sử dụng.
[3.2] Phần đất của bà Nguyễn Thị Thủy T, ông Trần Minh T1 có nguồn gốc nhận tặng cho từ cụ Nguyễn Văn T5 và cụ Huỳnh Thị Ú đối với thửa số 963, tờ bản đồ số 4 diện tích 360m². Qua đo đạc thực tế diện tích đất là 236,7m²; giảm 123,3m²; nguyên nhân giảm là do sai số giữa hai hệ thống bản đồ (bản đồ cũ 299 và bản đồ địa chính chính quy).
[3.3] Căn cứ vào kết quả đo đạc của Công ty TNHH Đ đã được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ1- chi nhánh D thẩm định (bút lục số 106); xác định phần đất tranh chấp có diện tích đất 128,8m² thuộc thửa số 527, tờ bản đồ số 28 được cấp cho ông Võ Văn L và ông Nguyễn Hữu H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng hiện nay do ông Trần Minh T1 và bà Nguyễn Thị Thủy T2 sử dụng xây tường rào hiện hữu và xây dựng công trình trên đất.
[3.4] Khi xây dựng hàng rào và công trình trên vị trí đất tranh chấp, ông T1, bà T2 không có sự thống nhất xác nhận ranh đất với chủ đất liền kề là ông L và ông H mà tự ý xây dựng. Do đó, nguyên đơn ông Võ Văn L và ông Nguyễn Hữu H khởi kiện tranh chấp đòi lại tài sản là QSĐ đối với bà Thủy T2, ông T1 là có cơ sở. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông T1, bà T2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
[5] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Căn cứ Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông T1, bà T2 phải chịu án phí theo quy định
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Minh T1 và bà Nguyễn Thị Thủy T2.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 70/2024/DS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Tuyên xử:
Căn cứ các Điều 166, 175 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn L và ông Nguyễn Hữu H về “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất” đối với ông Trần Minh T1 và bà Nguyễn Thị Thủy T2.
Buộc ông T1, bà T2 có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời tài sản trên đất (bao gồm: tường rào hiện hữu có tổng chiều dài là 60,07 mét, bao gồm hai đoạn: đoạn tiếp giáp thửa số 40, tờ bản đồ số 28 dài 39,50 mét và đoạn tiếp giáp thửa số 963, tờ bản đồ số 4 dài 28,57 mét; kết cấu móng bê tông cao 0,5 mét và tường xây tô cao 2 mét, trên có lưới B40 cao 0,7 mét; một phần nhà kho diện tích 209,2m² tháo dỡ di dời được; trụ bồn nước diện tích 0,7m² và 01 giếng khoang sâu 25 mét) để trả lại cho ông L, ông H diện tích đất 128,8m² thuộc thửa số 527, tờ bản đồ số 28, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04498, số phát hành CS 241227 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 15/8/2019 cho ông Võ Văn L và ông Nguyễn Hữu H đứng tên (có sơ đồ hiện trạng kèm theo)
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông T1, bà T2 phải chịu 300.000 đồng, tiền án phí sơ thẩm.
- Ông L, ông H không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho ông L, ông H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 8.750.000 đồng theo biên lai thu số 0007055 ngày 21-11-2023 của Chi cục thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
3. Về chi phí tố tụng: Ông T1, bà T2 phải chịu 42.400.000 đồng chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ.
Hoàn trả lại cho ông L, ông H số tiền tạm ứng 42.400.000 đồng chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ do ông T1, bà T2 nộp lại.
Bà T2, ông T1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng ông T1 đã nộp theo Biên lai thu số 0007896 ngày 07-6-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Sang |
Bản án số 373/2024/DS-PT ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 373/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Văn L -Nguyễn Thị Thủy T
