Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 372/2025/DS-PT

Ngày: 23 - 6 - 2025

V/v tranh chấp “Hợp đồng góp hụi và

vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thu Thủy.

Các Thẩm phán:Bà Võ Thị Thu Thuý;

Bà Nguyễn Ái Đoan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Âu Lâm Trường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang: Ông Võ Trung Hiếu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 210/2025/TLPT-DS ngày 15 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi và vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2025/DS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 893/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị P, sinh năm 1991.
  2. Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968.
  4. Ông Trịnh Văn Bé T, sinh năm 1964.

    Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

  5. Người kháng cáo: Bị đơn – bà Nguyễn Thị H.
  6. (Có mặt chị P và chị H1. Vắng ông T).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo án sơ thẩm:

Nguyên đơn, chị Trần Thị P trình bày:

Do chỗ bà con ruột với chồng của chị P nên ngày 20/6/2024 dương lịch chọi có cho bà H vay số tiền 100.000.000 đồng, tiền lãi 6.000.000 đồng/tháng, mỗi tháng đóng một lần, từ tháng 09/2024 dương lịch thì bà H ngưng không trả lãi cho chị.

Trước đó, vào ngày 10/02/2024 dương lịch chị có hốt hụi của bà H số tiền 67.200.000 đồng nhưng bà H không giao mà xin vay lại số tiền trên, từ tháng 9/2024 dương lịch bà H ngưng không trả lãi cho chị.

Như vậy, tổng số tiền bà H vay của chị là 167.200.000 đồng, bà H chưa trả vốn cho chị.

Ngoài ra, chị có tham gia 01 dây hụi do bà H làm chủ, dây hụi 5.000.000đồng mỗi tháng khui 01 lần, khởi khui ngày 20/8/2023 (âm lịch), gồm 22 phần, chị tham gia 02 phần và đóng 11 lần. Hụi chưa mãn nhưng đến tháng 7/2024 âm lịch thì ngưng không đóng nữa do bể hụi không giao, tổng số tiền hụi đã đóng là 106.000.000 đồng.

Tại thời điểm chị cho bà H mượn tiền và tham gia hụi do bà H và ông Trịnh Văn Bé T làm chủ hụi thì ông T và bà H vẫn là vợ chồng hợp pháp, số tiền nêu trên nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình trong thời kỳ hôn nhân. Vì vậy đây là nợ chung của vợ chồng, bà H và ông T đều phải có nghĩa vụ trả nợ cho chị.

Nay, chị khởi kiện yêu cầu ông Trịnh Văn Bé T và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ liên đới trả cho chị số tiền vay và tiền nợ hụi tổng cộng 273.200.000đồng, thực hiện trả khi án có hiệu lực pháp luật

-Bị đơn, bà Nguyễn Thị H có đại diện uỷ quyền là chị Nguyễn Thị Mỹ H1 trình bày:

Đối với hợp đồng vay: Đồng ý trả cho chị P số tiền vay 167.200.000 đồng nhưng xin trả mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

Đối với hợp đồng góp hụi: Đồng ý trả số tiền vốn đóng hụi là 88.000.000 đồng, nhưng đến khi mãn hụi (tháng 5/2025 âm lịch) mới trả do vỡ hụi nên các hụi viên hốt hụi xong không đóng hụi chết cho bà H, vì vậy bà H không có khả năng choàng hụi cho người khác.

-Bị đơn, ông Trịnh Văn Bé T xin vắng mặt có bản tự khai không đồng ý cùng bà Nguyễn Thị H trả số tiền hụi và tiền vay cho chị Trần Thị P.

*Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2025/DS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, căn cứ các Điều 357, 468, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trần Thị P.

Buộc ông Trịnh Văn Bé T và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Trần Thị P số tiền vay và tiền nợ hụi tổng cộng 273.000.000 đồng, thực hiện trả khi án có hiệu lực pháp luật

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định.

* Ngày 21 tháng 01 năm 2025 bị đơn, bà Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận tổng số tiền bà H còn nợ chị Trần Thị P là 212.152.000 đồng và xin trả dần hàng tháng 5.000.000 đồng đến khi hết nợ. Bà xin chịu trách nhiệm một mình đối với số tiền trên không liên quan gì đến ông Trịnh Văn Bé T.

* Tại phiên toà hôm nay:

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bà Nguyễn Thị Hồng G nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị H, sửa một phần bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng, nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị H còn trong thời hạn quy định nên được hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Tại phiên toà, bà Nguyễn Thị H xin chấm dứt hợp đồng uỷ quyền đối với bà Nguyễn Thị Mỹ H1. Ông Trịnh Văn Bé T có đơn xin vắng mặt, vì vậy Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3]. Về nội dung kháng cáo, xét thấy:

Bà Nguyễn Thị H kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu của bà H về việc trả số tiền vay và tiền hụi cho chị P với tổng số tiền là 212.152.000 đồng. Bà H xin trả mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi trả hết và xin chịu trách nhiệm một mình, không liên quan đến ông Trịnh Văn Bé T.

Hội đồng xét xử xét thấy:

3.1. Đối với hợp đồng vay tài sản:

Tại phiên toà, các đương sự thống nhất về số tiền vay, thời gian vay và lãi suất. Tuy nhiên, về số tiền lãi đã trả thì bà H cho rằng bà đã trả lãi cho chị P 50.000.000 đồng nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Chị P cho rằng số tiền lãi đã trả là 46.224.000 đồng là có cơ sở. Chị P đồng ý tính lãi số tiền vay theo quy định của pháp luật, sau đó cấn trừ số tiền lãi đã trả vào nợ gốc,

yêu cầu trả một lần, không đồng ý cho trả dần. Xét yêu cầu của chị P là có căn cứ phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận.

Trường hợp các bên có thoả thuận về lãi suất thì lãi suất theo thoả thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác...”.

Như vậy, lãi suất trong vụ án này sẽ được tính lại như sau:

67.200.000 đồng x 1,66%/tháng x 499 ngày : 30 (tính từ ngày 10/02/2024 đến ngày 23/6/2025) = 18.554.800 đồng (lấy số chẵn).

100.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 368 ngày: 30 (tính từ ngày 20/6/2024 đến ngày 23/6/2025) = 20.362.600 đồng (lấy số chẵn).

Cộng vốn và lãi: 67.200.000 đồng + 18.554.800 đồng + 100.000.000 đồng + 20.363.600 đồng = 206.118.400 đồng.

Sau khi trừ đi số tiền lãi đã trả thì số tiền bà H còn phải trả chị P là: 206.118.400 đồng - 46.224.000 đồng = 159.894.400 đồng.

3.2. Đối với hợp đồng góp hụi:

Các đương sự thống nhất trình bày chị P có tham gia một dây hụi 5.000.000 đồng do bà H làm chủ hụi. Dây hụi gồm 22 phần, chị P tham gia 02 phần, mỗi tháng khui hụi một lần, đến tháng 5/2025 hụi mãn. Chị P đã đóng hụi được 11 phần với số tiền là 88.000.000 đồng (chưa tính lãi), còn đã tính cả tiền lãi là 110.000.000 đồng. Bà H có xác nhận vào danh sách hụi viên do chị P cung cấp trong hồ sơ vụ án. Chị P đồng ý trừ đi 4.000.000 đồng huê hồng, còn lại 106.000.000 đồng chị P yêu cầu bà H và ông T phải có trách nhiệm trả liên đới trả cho chị P số tiền trên là có căn cứ nên được hội đồng xét xử chấp nhận. Bà H kháng cáo xin trả vốn và trả dần hàng tháng nhưng không được sự đồng ý của chị P, do đó yêu cầu của bà H không được hội đồng xét xử chấp nhận.

Như vậy, tổng số tiền bà H và ông T phải có trách nhiệm trả cho chị P gồm tiền vay 159.894.400 đồng và tiền hụi 106.000.000 đồng, tổng cộng 265.894.400 đồng.

3.3. Về trách nhiệm liên đới của vợ chồng:

Bà H cho rằng tiền huê hồng từ hụi là để tiêu xài cá nhân, việc bà chơi hụi hoặc vay tiền của chị P ông T không hay biết, không chứng kiến nên ông T không có trách nhiệm liên đới cùng với bà H trả nợ. Xét thấy tại thời điểm bà H và chị P xác lập hợp đồng góp hụi và vay tài sản thì ông T và bà H là vợ chồng hợp pháp. Việc vay tiền cũng như tổ chức góp hụi cũng nhằm mục đích phục vụ cho các nhu cầu củaq gia đình. Căn cứ vào Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Năm 2014 quy định vợ chồng phải có trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện. Tại phiên toà, bà H cho rằng ông T không biết, không liên quan đến các dây hụi do bà H làm chủ, từ trước đến nay

bà H tự làm và tiêu xài riêng là không có cơ sở. Do đó yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông T và bà H phải có trách nhiệm liên đới trả nợ là phù hợp với quyt định tại Điều 288 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những nhận định như đã nêu trên, hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị H, sửa một phần bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí: Bà H và ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 13.294.700 đồng.

Do sửa án nên bà H không phải chịu án phí phúc thẩm. Bà H được hoàn trả tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng.

[5]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309, Điều 296; Điều 147, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự;

1/- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị H.

Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

Căn cứ các Điều 288, 463, 466, 468, 471 và khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị P.

1/ Buộc ông Trịnh Văn Bé T và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ liên đới trả chị Trần Thị P số tiền vay và tiền nợ hụi tổng cộng 265.894.400 đồng. (hai trăm sáu mươi lăm triệu, tám trăm chín mươi bốn ngàn, bốn trăm đồng).

Kể từ ngày chị Trần Thị P có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Trịnh Văn Bé T và bà Nguyễn Thị Hồng C thi hành số tiền trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án

2/ Về án phí:

Ông Trịnh Văn Bé T và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ liên đới phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 13.294.700 đồng (Mười ba triệu, hai trăm chín mươi bốn ngàn, bảy trăm đồng).

Bà H không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) cho bà Nguyễn Thị H theo biên lai số 0003850 ngày 10/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho chị Trần Thị P là 6.830.000đồng (Sáu triệu, tám trăm ba mươi ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003664 ngày 31/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

3/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - TAND huyện Tân Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phước;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Thu Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 372/2025/DS-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về hợp đồng góp hụi và vay tài sản

  • Số bản án: 372/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng góp hụi và vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa một phần án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger