TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 372/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/7/2024
V/v: Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Kế Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Minh Tuấn
2 Bà Nguyễn Thị Anh Vân
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh Linh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyên - Kiểm sát viên.
Ngày 29/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 116/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QÐST-HNGĐ ngày 11/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Triệu Quang S, sinh năm 1960;
- Bị đơn: Bà Phạm Thị V, sinh năm 1968;
Cùng nơi đăng ký thường trú và cư trú: Số nhà C, ngách D, ngõ D đường C, TDP Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội.
(Có mặt bà V, ông S)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/3/2024 và trong quá trình giải quyết, Nguyên đơn là ông Triệu Quang S trình bày:
Về tình cảm: Ông và bà Phạm Thị V kết hôn ngày 19/03/1991 có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông, bà sinh sống tại thành phố T đến năm 1998 ông, bà chuyển về số nhà C, ngách D, ngõ D đường C, TDP Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội sinh sống và công tác từ đó cho đến nay. Vợ chồng ông, bà chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là trong quá trình sinh sống ông, bà không hợp nhau về tính cách, thường xuyên xảy ra cãi vã lẫn nhau, ông là đàn ông việc có lúc có người phụ nữ khác là không tránh khỏi nhưng ông không có con riêng như bà V trình bày. Đỉnh điểm mâu thuẫn vào năm 2020, ông, bà xảy ra xô sát, bà V thường xuyên chửi bới, đe dọa ông, có lần bà V định đánh ông, chửi bới ông rất thậm tệ, không tôn trọng ông, coi ông như kẻ thù. Từ năm 2020 đến nay ông, bà không còn quan tâm đến nhau, mỗi người một cuộc sống, vợ chồng không chia sẻ, thấu hiểu được với nhau trong mọi vấn đề. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ, đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Phạm Thị V.
Về con chung: Vợ chồng ông, bà có 02 con chung, là cháu Triệu Vân A, sinh ngày 02/5/2002 và cháu Triệu Việt H, sinh ngày 17/3/2004, cả hai cháu đều đã trưởng thành, khỏe mạnh nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nhà ở chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông, bà không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Bị đơn bà Phạm Thị V trình bày: Bà và ông Triệu Quang S tìm hiểu và yêu nhau được hơn 2 năm thì tiến đến hôn nhân. Ông, bà kết hôn ngày 19/03/1991, đăng ký tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, và tổ chức đám cưới sau khi đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, ông, bà chung sống với nhau từ năm 1991 đến 1998 tại phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Từ 1998 đến nay, vợ chồng ông, bà chuyển công tác về Hà Nội và sinh sống tại số nhà C, ngách D ngõ D đường C, Phường C, Quận B, Hà Nội. Vợ chồng ông, bà chung sống hạnh phúc trong thời gian từ năm 1991 đến tháng 12 năm 2023. Đến tháng 12/2023 bà phát hiện ra ông S ngoại tình có người phụ nữ khác tên Vũ Thị Lâm B từ năm 2012 đến năm 2023 và có 01 con riêng 10 tuổi với nhau (Bà không có chứng cứ, tài liệu gì để chứng minh việc này nhưng có em dâu tôi biết và bà đã đề nghị Tòa án xác minh) thì bà đã rất sốc dẫn đến vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ đó đến nay. Bà không yêu cầu chuyển hồ sơ sang cơ quan công an, không đề nghị truy tố ông S vi phạm quy định hôn nhân một vợ một chồng. Sau đó, bà đã bị trầm cảm, nhiều lần bà đã nghĩ đến cái chết để giải thoát cho bản thân, nhưng bản năng làm mẹ đã không cho phép nên bà đã không làm được. Các con bà cũng sốc, tâm lý không ổn định khi biết bố ngoại tình và có con riêng vì trong mắt mẹ con bà, chồng bà là người chồng, người cha có trách nhiệm với gia đình và vợ con. Khi xảy ra chuyện, vì quá sốc vợ chồng bà có xảy ra xô sát, bà cũng không kiềm chế được cũng có lời to tiếng qua lại xúc phạm quá mức với nhau. Ông S nộp đơn ly hôn đơn phương, bà không đồng ý với lý do ông, bà đã sống hạnh phúc hơn 33 năm, bà luôn sống thương yêu chăm lo xây dựng hạnh phúc cả đời cho gia đình mình, bà muốn con bà có tâm lý ổn định để các cháu học hành và trưởng thành có gia đình có bố có mẹ tuy rằng hạnh phúc gia đình nó không được đong đầy như trước nhưng nó là điểm tựa cho các con bà trưởng thành nên bà chưa bao giờ nghĩ đến ly hôn. Đề nghị Tòa án hòa giải đoàn tụ cho vợ chồng ông, bà. Hiện giờ, bà không có biện pháp gì để khắc phục mối quan hệ vợ chồng.
Về con chung: Vợ chồng ông, bà có 02 con chung, là cháu Triệu Vân A, sinh ngày 02/5/2002 và cháu Triệu Việt H, sinh ngày 17/3/2004, cả hai cháu đều đã trưởng thành, khỏe mạnh nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nhà ở chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông, bà không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Tại phiên tòa:
- Ông S xin được ly hôn bà V vì xác định tình cảm không còn. Về con chung ông, bà có 3 con chung cháu lớn mất vì tại nạn giao thông năm 2002 hai cháu nhỏ không có yêu cầu gì vì các con đã trưởng thành các con muốn ở với ai là tùy các con, ông không có ý kiến gì. Về tài sản chung ông S không yêu cầu tòa án giải quyết, về nợ chung không nợ ai.
- Bà V không đồng ý ly hôn vì vợ chồng chung sống được 33 năm trải qua rất nhiều thăng trầm nay đã già nên cần có vợ chồng để các con có điểm tựa học tập và xây dựng gia đình. Về con chung thì các cháu đã lớn trưởng thành nên các cháu muốn ở với ai là tùy các cháu. Về tài sản chung, nhà ở chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông, bà không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 28; 68; 195; 196; 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70; 71; 72; 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Mâu thuẫn giữa vợ chồng ông S, bà V do thiếu sự tôn trọng nhau, bất đồng quan điểm sống đã ly thân từ 2020 không ai quan tâm đến ai dù sống chung trong một nhà. Mâu thẫu đã thực sự trầm trọng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 – Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận đơn xin ly hôn của ông S đối với bà V. Ông S được ly hôn bà V.
Về con chung: Các cháu đã trưởng thành không xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông, bà không yêu cầu nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn đã nộp đơn và các chứng cứ đúng quy định. Tranh chấp của vụ án là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, ông S, bà V hiện đang sinh sống tại Số nhà C, ngách D, ngõ D đường C, TDP Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội – Theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Triệu Quang S:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông S và bà V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 19/03/1991, tại UBND phường P, thị xã T, tỉnh Hà Tuyên (Nay là phường P, thành phố T tỉnh Tuyên Quang) là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án ông S xác định vợ chồng mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, bất đồng quan điểm sống, cách sống, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được xin ly hôn bà V. Bà V xác định mâu thuẫn vợ chồng không lớn ông S xin ly hôn bà không đồng ý ly hôn xin được đoàn tụ.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa ông S, bà V đã thật sự trầm trọng, cả hai bên đều không thực hiện các nghĩa vụ của vợ, chồng sống chung một nhà nhưng không ai quân tâm đến ai, đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay, mâu thuẫn trầm trọng từ tháng 12/2023 cho đến nay làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông S xin ly hôn bà V không đồng ý ly hôn mong muốn các con ổn định tâm lý học hành và có cả tình cảm cả bố và mẹ. HĐXX xét: Lý do bà vân đưa ra vì sợ tâm lý các con không ổn định học hành là không có căn cứ hiện nay các con đã trưởng thành các con muốn ở với ai là tùy các con. Vợ chồng sống mà thiếu tôn trọng nhau dẫn đến nhiều hậu quả khác càng làm ảnh hưởng đến các con. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà V. Nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông S đối với bà V.
- Về con chung: Vợ chồng ông sáng, bà V có hai con chung. Các cháu đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông S, bà V không yêu cầu Hội đồng xét xử không xét.
Về nợ chung: Ông S, bà V không có vay, nợ chung.
[3] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa Hội đồng xét xử thấy đề nghị giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Ông S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 235; Điều 271; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
- Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Triệu Quang S.
Cho ông Triệu Quang S được ly hôn với bà Phạm Thị V.
- Về con chung: Các con đã trưởng thành. Tòa không xét.
- Về tài sản chung: Ông S, bà V không yêu cầu. Tòa không xét.
- Nợ chung: Không.
- Về án phí: Ông S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm. Ghi nhận ông S đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội theo biên lai số: 0021387, ngày 13/3/2024, nay chuyển thành án phí. Ông S đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Ông S, bà V có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lý Kế Hiền |
Bản án số 372/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 372/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Triệu Quang S ly hôn với Phạm Thị V
