QTÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 372/2024/DS-ST Ngày 11 – 12 – 2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Châu Trung Trực
Ông Thái Hoàng Bo
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 704/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp hụi và vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 458/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Cẩm L, sinh năm 1980; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);
- Bị đơn:
- + Ông Ngô Chí L1, sinh năm 1971; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; Nơi sinh sống hiện tại: khóm B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- + Bà Huỳnh Kim N, sinh năm 1974; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; Nơi sinh sống hiện tại: khóm B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Bà Huỳnh Cẩm L trình bày: Ông L1 và bà N là hụi viên tham gia hụi do bà L làm chủ cụ thể: Dây hụi mở ngày 10/01/2020 âm lịch, loại hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, có 45 chưng, bà N và ông L1 tham gia 01 chưng, đến lần thứ 10 bà N bỏ hụi 650.000 đồng và hốt số tiền 69.150.000 đồng. Sau đó, bà N đóng hụi đến chưng hụi thứ 16 và ngưng không đóng hụi đến nay, còn nợ lại 29 kỳ hụi chết với số tiền 58.000.000 đồng.
Ngoài ra, bà N có mượn tiền bà L hai lần: Lần thứ nhất ngày 27/02/2020 số tiền 110.000.000 đồng; Lần thứ hai ngày 06/7/2020 số tiền 70.000.000 đồng. Từ năm 2020 đến nay bà L nhiều lần yêu cầu bà N trả tiền hụi và mượn nêu trên nhưng bà N không thực hiện. Nay bà L yêu cầu ông L1 và bà N trả lại số tiền hụi 58.000.000 đồng, tiền mượn 180.000.000 đồng, tổng là 238.000.000 đồng.
* Bà Huỳnh Kim N trình bày:
Bà N thống nhất toàn bộ lời trình bày của nguyên đơn và thống nhất có nợ nguyên đơn số tiền trên. Đối với số tiền hụi nợ theo giấy chốt hụi là 58.000.000 đồng, chưng hụi này đã mãn nhưng chưa khả năng thanh toán cho bà L, khi bà làm chủ hụi do hụi viên hốt hụi không đóng nên mới hốt hụi của bà L để lấp và đóng lãi của khoản tiền vay của bà L. Bà có vay của bà L hai lần, lần thứ nhất 110.000.000 đồng, lần thứ hai 70.000.000 đồng, bà có ký biên nhận là đúng. Tuy nhiên, đây là tiền vay có tính lãi suất 40.000 đồng/tháng/1.000.000 đồng, đóng lãi đầy đủ từ khi vay 02/2020 đến tháng 02/2021 thì ngưng cho đến nay không trả lãi, vốn do làm ăn kinh tế thất bại, việc tính toán hụi sai khi làm đầu thảo dẫn đến vay nợ nhiều nơi và không còn khả năng chi lấp. Khi bà với ông L1 đi Bình Dương làm thì lúc này ông L1 có biết bà vỡ nợ do làm hụi nhưng ông L1 không biết nợ bao nhiêu. Thời điểm bà mở hụi thì ông L1 làm tài xế chạy vỏ bao, bà N may quần áo, kinh tế vợ chồng cùng làm, cùng chi sinh hoạt chung. Mục đích bà làm hụi cũng muốn kiếm thêm thu nhập tạo kinh tế trong gia đình nhưng không ngờ tính toán sai nên dẫn đến vỡ nợ. Nay bà N yêu cầu được trả dần vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn và khoản nợ này bà N vay mượn để tràn lấp các khoản nợ khác, ông L1 không biết, bà yêu cầu một mình có trách nhiệm trả nợ.
* Đối với ông Ngô Chí L1: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông L1 biết về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng ông L1 không có ý kiến hay yêu cầu gì và không tham gia hòa giải, xét xử tại Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông L1, bà N đã được Tòa án triệu tập tham gia xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định.
[2] Về quan hệ tranh chấp: Bà L khởi kiện yêu cầu ông L1, bà N có địa chỉ cư trú hiện tại là khóm B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau trả số tiền hụi và vay. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tranh chấp hợp đồng dân sự cụ thể hợp đồng hụi, vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
[3] Xét nội dung vụ án thấy rằng:
[3.1] Đối với số tiền hụi: Theo tờ giao kèo hụi mở ngày 10/01/2020 âm lịch, bà N có tham gia giao dịch hụi với bà L. Theo đó, bà L là chủ hụi và bà N là hụi viên, tham gia một chưng hụi, bà L thực hiện đúng nghĩa vụ của chủ hụi chung hụi cho bà N ở kỳ khui thứ 10, tuy nhiên bà N vi phạm nghĩa vụ của hụi viên là hốt hụi nhưng ngưng không đóng hụi và nợ lại bà L tổng số tiền 58.000.000 đồng, có biên nhận chốt hụi vào ngày 22/01/2024 (BL 04). Hiện tại dây hụi đã mãn bà L đã phải xuất tiền ra lấp hụi thay cho bà N.
[3.2] Đối với số tiền vay: Tại biên nhận ngày 27/02/2020 và ngày 06/7/2020 âm lịch (BL 03, 05) thể hiện bà L cho bà N mượn số tiền 70.000.000 đồng và 110.000.000 đồng. Tuy nhiên, các bên đều thừa nhận tiền mượn theo biên nhận có lãi suất và bà N có đóng lãi cho bà L. Do đó, xác định đây là số tiền vay có lãi, số tiền lãi đã đóng các đương sự không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết. Đến nay bà N cũng chưa thanh toán số tiền vốn vay cho bà L.
Bà N thừa nhận nợ số tiền hụi, tiền vay nên cần buộc bà N trả lại số tiền nêu trên cho bà L là đúng quy định.
[3.3] Về trách nhiệm trả nợ: Bà L yêu cầu ông L1 và bà N cùng có trách nhiệm trả nợ, bà N không đồng ý và yêu cầu một mình bà trả nợ cho bà L. Hội đồng xét xử xét thấy, bà N và ông L1 có mối quan hệ vợ chồng từ năm 1998, bà N thừa nhận quá trình chung sống bà và ông L1 làm kinh tế chung, khi bà N làm chủ hụi, vay tiền để lấp hụi mục đích là để tạo thêm thu nhập trong gia đình, ông L1 biết việc bà N làm hụi và bị vỡ nợ. Do đó, có cơ sở xác định là khoản nợ trên là nợ chung của ông L1 và bà N trong thời kỳ hôn nhân. Đồng thời, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho ông L1 biết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng ông L1 không có ý kiến hay yêu cầu gì. Đây là những tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Từ những cơ sở phân tích nêu trên, cần buộc ông L1 và bà N cùng có trách nhiệm trả cho và bà L số tiền hụi 58.000.000 đồng và tiền vay 180.000.000 đồng là phù hợp.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 13, Điều 14, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì bị đơn phải chịu toàn bộ án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn là 11.900.000 đồng (238.000.000 đồng x 5%). Trong đó, phần của ông L1 phải chịu 5.950.000 đồng, phần của bà N phải chịu là 5.950.000 đồng. Tuy nhiên, bà N có hồ sơ xin giảm án phí nên được xét giảm 50% với số tiền án phí còn lại bà N phải chịu là 2.975.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468, 471 của Bộ luật Dân sự; điểm c khoản 1 Điều 16, điểm b khoản 1 Điều 17 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về họ, hụi, biêu, phường; khoản 1 Điều 13, Điều 14, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Cẩm L.
- Buộc ông Ngô Chí L1 và bà Huỳnh Kim N cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà Huỳnh Cẩm L tổng số tiền hụi và tiền vay là 238.000.000 đồng (hai trăm ba mươi tám triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong đối với tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Ngô Chí L1 phải chịu án phí số tiền 5.950.000 đồng (năm triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) ); (chưa nộp).
- Bà Huỳnh Kim N phải chịu 2.975.000 đồng (hai triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), bà N đã được xét giảm 50% án phí; (chưa nộp).
- Bà Huỳnh Cẩm L không phải chịu án phí, bà L đã nộp tạm ứng án phí số tiền 2.975.000 đồng (hai triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001997 ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được nhận lại.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Trúc |
(đã ký)
Bản án số 372/2024/DS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hụi
- Số bản án: 372/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HỤI VÀ VAY TÀI SẢN
