TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 372/2024/HS-ST Ngày: 08 - 8 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Gái.
- Bà Nguyễn Hương Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 382/2024/HSST ngày 19 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 414/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Thạch Chane Sô Ra D, sinh năm: 2001, tại Trà Vinh; nơi thường trú: 198, ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Thạch Sa Mone T, sinh năm 1980 và bà Thạch Thị L, sinh năm 1978; bị cáo là con đầu trong gia đình có 02 anh em; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/01/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Phạm Quốc T1, sinh năm: 1994, tại Đồng Nai; nơi thường trú: Tổ B, Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: 63/3, Tổ A, khu phố H, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Phụ bếp; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1954 và bà Phan Thị Hồng M, sinh năm 1962; bị cáo là con út trong gia đình có 03 anh chị em; vợ: Nguyễn Thị Cẩm T2, sinh năm 1998 và có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/01/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Thạch Sa Mone T, sinh năm 1980.
Nơi thường trú: 198, ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 24/01/2024, Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố T tiến hành tuần tra kiểm soát khi đến trước đối diện nhà số H, đường G, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Thạch Chane Sô R (sinh năm: 2001) đang điều khiển xe môtô biển số 37F1-768.05 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng xe kiểm tra. Lúc này Thạch Chane S Ra D sử dụng tay trái vứt 01 gói nylon bên ngoài có dính băng keo đen bên trong chứa tinh thể không màu cách chỗ Thạch Chane S Ra Da dừng xe khoảng 02 mét. Thạch Chane Sô Ra D khai gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy đá của Thạch Chane Sô R và Phạm Quốc T1 hùn tiền mua về để sử dụng nên Tổ 363 tiến hành lập biên bản và đưa Thạch Chane Sô Ra Da về trụ sở Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ bắt người phạm tội quả tang. Kết quả xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với Thạch Chane S Ra Da cho kết quả dương tính với chất ma túy.
Quá trình điều tra xác định: Thạch Chane Sô R và Phạm Quốc T1 là nhân viên nhà hàng tiệc cưới “Lộc Phát”, địa chỉ: F – 68A/12, Quốc lộ A, Khu phố T, phường V, TP ., tỉnh Bình Dương. Thạch Chane Sô Ra D và T1 bắt đầu sử dụng ma túy đá khoảng 01 tháng cho đến ngày bị bắt. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 24/01/2024, trong lúc Thạch Chane Sô Ra Da đang làm việc tại nhà hàng tiệc cưới “Lộc Phát” thì Thạch Chane S Ra D rủ Phạm Quốc T1 (nhân viên làm chung nhà hàng) hùn 100.000 đồng để mua ma túy đá về sử dụng, T1 đồng ý và đưa cho Thạch C Sô Ra Da 100.000 đồng sau đó Thạch Chane Sô Ra Da liên lạc qua mạng xã hội Zalo cho 01 người thanh niên có tài khoản tên “H” đặt mua 200.000 đồng tiền ma túy đá. Sau khi điện thoại, Thạch C Sô Ra Da điều khiển xe môtô biển số 37F1-768.05 đi tới khu vực chung cư trên đường C, phường T, thành phố T và đi vào 01 con hẻm (không nhớ địa chỉ chính xác) để đợi người bán ma túy, khoảng 10 phút sau thì có 01 người thanh niên (không rõ lai lịch) đến đưa cho Thạch C Sô Ra Da một gói nylon bên ngoài dính băng keo đen bên trong có chứa ma túy đá. Thạch Chane S Ra D nhận gói ma túy đá rồi đưa 200.000 đồng cho người thanh niên rồi cầm gói ma túy đá trong lòng bàn tay trái điều khiển xe môtô biển số 37F1-768.05 đi về. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi Thạch Chane S Ra Da về đến đối diện Nhà số H, đường G, phường T, thành phố T thì bị bắt quả tang như trên.
Ngày 25/01/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã mời Phạm Quốc T1 đến trụ sở để làm việc, Phạm Quốc T1 đã khai nhận như trên.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở tại Nhà số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương đối với Thạch Chane Sô Ra D1 không thu giữ gì liên quan đến ma túy. Khám xét khẩn cấp chỗ ở tại Nhà số F, Tổ A, khu phố H, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương đối với Phạm Quốc T1 thu giữ 01 chai nhựa tự chế dùng để sử dụng ma túy đá.
Kết luận giám định số 1922/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2134g, loại Methamphetamine.
Ngày 17/5/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã có Công văn số 4933/CV-ĐCSMT gửi đến Công ty Cổ phần V để xác minh chủ sở hữu tài khoản Zalo tên “H” nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời.
Vật chứng vụ án:
- + 01 gói niêm phong ghi vụ số 620/24 (1922) có chữ ký của GĐV Trần Đình H1 và Nguyễn Thị Phương M1 – Cán bộ Công an thành phố T bên trong là 0,1400g ma túy còn lại sau khi giám định.
- + 01 điện thoại di động Samsung, màu đen (thu của Thạch Chane S Ra Da dùng để liên lạc mua ma túy).
- + 01 chai nhựa tự chế dùng để sử dụng ma túy đá. (thu của T1).
- + 01 điện thoại di động Iphone, sim số 0354.298.xxx (thu của T1).
- + 01 xe môtô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ trắng biển số 37F1-768.05 (thu của Thạch Chane S Ra Da).
Qua xác minh xe môtô biển số 37F1-768.05 do ông Cao Xuân Q đứng tên chủ sở hữu. Ông Q khai báo: Xe môtô biển số 37F1-768 do ông Q mua vào năm 2015 đến năm 2022 ông Q đã bán lại xe môtô trên cho 01 người đàn ông (không nhớ tên) người dân tộc Khmer với giá 3.000.000 đồng nhưng không làm giấy tờ mua bán, sang tên đổi chủ sở hữu.
Ông Thạch Sa Mone T (cha của Thạch Chane S Ra Da) khai báo: Khoảng năm 2022, ông đã mua xe môtô biển số 37F1-768.05 của 01 người đàn ông người miền Bắc với giá 3.000.000 đồng nhưng không làm giấy tờ mua bán, sang tên. Ngày 24/01/2024, Thạch Chane S Ra Da mượn xe môtô trên của ông để đi làm, ông Thạch Sa Mone T không biết và không liên quan đến việc Thạch C Sô Ra Da sử dụng xe môtô trên để đi mua ma túy.
Tại Cáo trạng số: 382/CT-VKSTPTĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Phạm Quốc T1 và Thạch Chane S Ra Da về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thạch Chane S Ra Da từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2024.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Quốc T1 từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/01/2024.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, đồng ý với kết luận giám định và không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm về với gia đình, trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.
[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ,... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 24/01/2024, tại đối diện Nhà số H, đường G, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Thạch Chane Sô R và Phạm Quốc T1 có hành vi tàng trữ 0,2134g ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, tiếp tay cho các tệ nạn xã hội ngày càng phát triển, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng do nghiện ma túy nên đã tàng trữ ma túy để sử dụng. Hành vi của các bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với người thanh niên tên “Hdh” bán ma túy, do không rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra tiếp tục truy xét, sau khi bắt được sẽ xử lý sau.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Các bị cáo tàng trữ ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,2134g nên thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng nên cần phải xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc về các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, hoàn cảnh gia đình của các bị cáo để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với khối lượng ma túy thu giữ của các bị cáo: Xét đây là chất ma túy Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động Samsung, màu đen bị cáo Thạch Chane S Ra Da dùng để liên lạc mua ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 chai nhựa tự chế dùng công cụ bị cáo T1 dùng để sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone, sim số 0354.298.xxx (thu giữ của Phạm Quốc T1), không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo T1.
- Đối với 01 xe môtô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ trắng biển số 37F1-768.05 (thu của Thạch Chane Sô R), xác định được ông Thạch Sa Mone T (cha của Thạch C Sô Ra Da) đã mua lại nhưng không làm giấy tờ mua bán, sang tên. Ngày 24/01/2024, Thạch Chane S Ra Da mượn xe môtô trên của ông để đi làm, ông Thạch Sa Mone T không biết và không liên quan đến việc Thạch C Sô Ra Da sử dụng xe môtô trên để đi mua ma túy nên trả lại cho ông Thạch Sa M2 Tha.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Quốc T1 và Thạch Chane S Ra Da phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
- Xử phạt bị cáo Thạch Chane S Ra Da: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2024.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
- Xử phạt bị cáo Phạm Quốc T1: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/01/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 gói niêm phong ghi vụ số 620/24 (1922).
- + 01 bình nhựa tự chế để sử dụng ma túy.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Samsung, màu đen.
- - Trả lại cho bị cáo Phạm Quốc T1: 01 điện thoại di động Iphone, sim số 0354.298.xxx.
- - Trả lại cho ông Thạch Sa Mone T: 01 xe môtô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ trắng biển số 37F1-768.05.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 329/QĐ-VKSTPTĐ ngày 11/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho ngày 19/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc các bị cáo Phạm Quốc T1 và Thạch C Sô Ra Da, mỗi bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- - Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Ngọc |
Bản án số 372/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 372/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Quốc T và Thạch Chane S tội tàng trữ trái phép chất ma túy
