|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 372/2024/HS-ST. |
|
|
Ngày 22/07/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Vinh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Hòa
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 07 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 387/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 07 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 379/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 07 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Trung H, sinh năm 1995 tại tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: I, tổ A, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên cha: Nguyễn Văn T (sinh năm 1971); Họ tên mẹ: Mai Thị Thùy L (sinh năm 1975); bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 22/9/2015, bị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xử phạt 14 năm tù về tội “Giết người”.
Bị cáo bị bắt ngày 17/01/2024, Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trung H là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 17 giờ 00 ngày 17/01/2024, H sử dụng điện thoại liên lạc qua ứng dụng zalo cho một người nam thanh niên có nickname “Ty” (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 03 viên thuốc lắc và 01 gói ma túy hàng khay với giá 1.000.000 (Một triệu đồng), T1 hẹn H đến khu vực quán G thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để giao ma túy, H đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 60F2-446.30 đến đại điểm nêu trên mua của Ty 03 (ba) viên thuốc lắc và 01 (một) gói ma túy hàng khay với giá 1.000.000 (một triệu đồng) với mục đích sử dụng.
Khoảng 18 giờ 05 phút cùng ngày, H cầm số ma túy nêu trên trong lòng bàn tay phải rồi điều khiển mô tô biển số 60F2-466.30 đi về đến đường T thuộc tổ B, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì H tháy lực lượng công an nên dừng xe. Lúc này, H phát hiện thấy công an đến kiểm tra nên H ném gói ma túy cầm trên tay phải xuống đất tại vị trí H đang ngồi trên xe mô tô thì Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố B phối hợp với Công an phường A phát hiện bắt quả tang.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) gói nilon hàn kín bên trong chứa 03 viên nén màu xám (Nguyễn Trung H khai là thuốc lắc – kí hiệu M1) và 01 gói nilon có chứa chất màu trắng (Nguyễn Trung H khai là ma túy hành khay – kí hiệu M2) đã được niêm phong có chữ ký của H và dấu mộc của Công an phường A, thành phố B.
- - 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 7plus màu vàng, số Imei:355346083801017 của H dùng liên lạc mua ma túy.
- - 01 xe mô tô biển số 60F2-466.30 thu giữ của Nguyễn Trung H. H khai: Xe mô tô trên H mượn của bà Mai Thị Thùy L (mẹ của H) để đi công việc. Qua xác minh, xe mô tô biển số 60F2-466.30 do ông Mai Thị Thùy L (sinh năm 1975, thường trú tại I, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) đứng tên đăng ký sở hữu. bà L khai: Ngày 17/01/20204, H mượn xe 60F2-466.30 đi công việc, bà L không biết H sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại xe cho bà L quản lý.
* Tại kết luận giám định số 144/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
“Mẫu viên nén màu xám (Mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,3352 gam, loại MDMA
Mẫu chất màu trắng (Mẫu M2) được tiêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,8900 gam, Ketamine”.
Bản cáo trạng số 382/CT-VKSBH ngày 26/06/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trung H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xét lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai người làm chứng, và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận bị cáo H đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại MDMA có khối lượng 1,3352 gam và loại Ketamine có khối lượng 0,8900 gam, thì bị bắt quả tang. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ chính xác, đúng quy định pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo xâm phạm chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy bị ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần. Tội phạm ma túy có thể là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác nên Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng... cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo có một tiền án lại tái phạm theo là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có hoàn cảnh gia đình khó khăn là tình tiết giảm nhẹ quy định tại s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng của vụ án:
- - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ sau giám định.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước : 01 điện thoại di động hiệu Iphonne 7Plus màu vàng, số I:355346083801017
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[7]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Trung H: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam.
Thời hạn tù tính từ ngày 17/1/2024.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ sau giám định.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước : 01 điện thoại di động hiệu Iphonne 7Plus màu vàng, số Imei:355346083801017 (Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 16 tháng7 năm 2024 giữa Cơ quan điều tra công an thành phố B và chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
- Về án Phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Nguyễn Trung H phải chịu 200.000đ tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Trung H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phước Vinh |
Bản án số 372/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 372/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
