TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 372/2024/HSPT Ngày 09 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Kiều Lương |
| Các thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Lệ Trang |
| Ông Trần Nam Phương | |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. |
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 255/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Trần Duy T do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 58/2024/HSST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 328/2024/QĐXX-PTHS ngày 17/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 233/2024/QĐPT-HS ngày 29/7/2024.
Bị cáo bị kháng cáo:
Họ và tên: Trần Duy T; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1987; Nơi sinh: Đồng Nai.
Nơi cư trú: Hẻm I T, khu phố C, phường X, thành phố L, Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con anh: Trần Văn P, sinh năm: 1944 (chết) và con bà Phạm Thị T1, sinh năm: 1954; Có vợ Phan Thị Thúy H, sinh năm 1990, có 1 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/9/2023 cho đến nay.
- Bị hại kháng cáo: Anh Đoàn Ngọc S, sinh năm 1993. Địa chỉ: Khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Luật sư Đỗ Văn V - Công ty L - Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: 2 hẻm B, Đỗ Văn T2, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo, bị hại, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Nội dung chính: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/7/2023, anh Nguyễn Đức T3 và anh Nguyễn Phúc H1, cùng đến nhà của Trần Duy T, và bà Phan Thị Thúy H (vợ T), để giải quyết mâu thuẫn về việc tiền nợ hụi giữa bà H và vợ anh T3 là bà Châu Mỹ Tố N, khi biết anh T3 đi đến nhà T thì anh Đoàn Ngọc S cùng đi theo anh T3 để đòi số tiền mà T còn nợ mẹ của S. Khi anh T3, anh H1 và S, đi đến nhà T thì không có T ở nhà, một lúc sau thì T về và nói chuyện với anh S, anh T3 và anh H1. Trong quá trình nói chuyện S và T đã xảy ra cự cãi với nhau dẫn đến việc đôi bên xô xát nhưng được anh T3 đứng gần đó can ra. Tiếp đó, S và T vẫn tiếp tục cự cãi với nhau về số tiền nợ của T đối với bà D, cụ thể: S cho rằng trước đây T đã mượn bà D số tiền 70.000.000đ nên yêu cầu T trả đủ; T chỉ thừa nhận mượn bà D số tiền là 30.000.000đ và đã trả trước cho bà D số tiền 5.000.000đ nên chỉ còn thiếu bà D số tiền là 25.000.000đ. Đồng thời, T nói với S là chỉ mượn tiền của bà D, không mượn tiền S nên chỉ tiếp bà D đến nói chuyện. Khi bà D đến, đôi bên vẫn tiếp tục cự cãi với nhau về số nợ, S nhiều lần nói “mẹ mày” rồi cầm điện thoại bằng tay trái đưa sát vào mặt của T (mục đích cho T xem ghi chú về số nợ của T đối với bà D). T thấy vậy thì dùng tay hất tay S ra, S bị hất ra thì lại tiếp tục xanh vào nói “đánh đi” giơ tay phải nắm lại đánh về phía T nhưng không trúng. Cùng lúc đó, T cầm chìa khóa xe mô tô hiệu Vision bằng tay trái đánh trúng vào cổ của S gây thương tích và chảy máu. Thấy vậy, anh T3 dùng xe máy chở S đến Phòng khám Đ để xử lý vết thương. Sau khi đã xử lý xong vết thương S đến Công an phường X, thành phố L trình báo sự việc trên rồi đến Bệnh viện Đ1 để điều trị. Đến ngày 20/7/2023, anh Đoàn Ngọc S làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự cố ý gây thương tích để xử lý Trần Duy T theo quy định pháp luật.
- Giám định kết luận giám định: Tại Giấy chứng nhận thương tích số 1777/CN-BV ngày 25/7/2023, Bệnh viện Đ1 thể hiện: Đoàn Ngọc S vào viện lúc 15 giờ 23 phút ngày 25/7/2023, có thương tích như sau:
- 01 vết thương cổ phải dài 02 cm đã khâu.
- - Vết thương vùng cổ kích thước 2,5 x 0,2 cm tỷ lệ: 02% (hai phần trăm);
- - Thương tích vùng cổ phải của Đoàn Ngọc S là do vật tày có góc cạnh tác động trực tiếp gây nên.
- Truy tố: Tại Cáo trạng số: 44/CT-VKS ngày 11/03/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố bị cáo Trần Duy T về tội: “ Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Quyết định của cấp sơ thẩm: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh đã căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Trần Duy T 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
- Kháng cáo: Ngày 02/5/2024, bị hại anh Đoàn Ngọc S có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh theo hướng không cho bị cáo hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ, chuyển sang hình phạt tù có thời hạn và đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 100.000.000đ về thiệt hại sức khỏe, chi phí điều trị, tiền mất thu nhập, mất việc làm và tiền bồi dưỡng sức khỏe, tiền tổn thất về tinh thần.
- Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Luật sư Đỗ Văn V trình bày:
Không đồng ý với Kết luận giám định. Bị hại có yêu cầu giám định lại mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L chỉ cho giám định bổ sung là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy chưa xác định chính xác tỷ lệ thương tật của bị hại. Bị cáo có dùng tay đè cổ của bị hại xuống xe của bị hại theo lời khai của anh T3 nhưng chưa được xem xét. Lời khai bị cáo tại phiên tòa và lời khai của bị cáo trong hồ sơ có mâu thuẫn nên việc đại diện Viện kiểm sát áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo là chưa phù hợp. Việc T và vợ T không đưa bị hại đi cấp cứu là thể hiện mong muốn hậu quả xảy ra. Vợ bị cáo T đưa video lên mạng xã hội nhằm bôi nhọ S và gia đình S chưa được giải quyết. Cáo trạng nhận định bị hại có 1 phần lỗi là không đúng. Cáo trạng của Viện kiểm sát không áp dụng tình tiết có tính chất côn đồ là chưa phù hợp. Việc đề xuất mức xử phạt của Viện kiểm sát chưa đủ sức răn đe. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt tù bị cáo. Về dân sự, tại phiên tòa hôm nay bị hại chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 100.000.000đ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa.
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Duy T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm bị hại kháng cáo đề nghị chuyển hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo sang hình phạt tù có thời hạn, đồng thời yêu cầu tăng mức bồi thường dân sự. Xét thấy, trong vụ án trên, bị hại có một phần lỗi dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo trong khi đó bản thân bị cáo và những người bị hại không có mâu thuẫn gì trước đó, mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo như trên là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã thực hiện. Do đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
Đối với yêu cầu kháng cáo đề nghị tăng mức bồi thường dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000đ tiền điều trị thương tật cho bị hại là phù hợp với tinh thần nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại, giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị hại anh Đoàn Ngọc S làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã có đủ cơ sở kết luận, vào lúc 10 giờ 30 ngày 18/7/2023, tại nhà số I T, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. T cầm chìa khóa xe mô tô hiệu Vision bằng tay trái đánh trúng vào cổ của S gây chảy máu và thương tích cho anh S với tỷ lệ tổn thương là 02%. Do anh S có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” nên hành vi dùng chìa khóa là hung khí nguy hiểm để gây thương tích của T đã phạm vào điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi của bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.
[3] Xét nội dung kháng cáo:
3.2. Chỉ vì mâu thuẫn trong việc nợ nần giữa bị hại với bị cáo. Trong lúc cãi nhau anh Đoàn Ngọc S đã nhiều lần nói “mẹ mày” rồi cầm điện thoại bằng tay trái đưa sát vào mặt của bị cáo Trần Duy T, thấy vậy bị cáo đã dùng tay hất tay bị hại ra, bị hất ra thì bị hại lại tiếp tục xông vào nói “đánh đi” và giơ tay phải nắm lại đánh về phía bị cáo nhưng không trúng. Cùng lúc, bị cáo T dùng chìa khóa đấm vào cổ bị hại gây thương tích 02%, vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Hành vi của bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương thích” đồng thời xử phạt bị cáo Trần Duy T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đã xem xét hết các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện, đồng thời cũng xem xét bị hại có một phần lỗi dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị hại Đoàn Ngọc S kháng cáo đề tăng hình phạt và không cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ nhưng không cung cấp chứng cứ mới để xác định hành vi của bị cáo trong thời gian được tại ngoại có thể gây nguy hiểm cho bị hại và gây nguy hiểm cho xã hội. Do đó, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo về hình phạt của bị hại đối với bị cáo.
Về phần bồi thường dân sự: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét về quá trình điều trị thương tật, các chi phí điều trị phù hợp với các quy định tại Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/09/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đồng thời buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000đ (bao gồm tiền thuốc men điều trị, tiền tổn thất về tinh thần) là phù hợp quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị hại Đoàn Ngọc S yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 100.000.000đ bao gồm: Tiền chi phí chữa trị ban đầu 5.000.000đ. Tiền vật lý trị liệu: 10.000.000đ; Tiền bồi dưỡng sức khỏe: 10.000.000đ; Tiền mất thu nhập thực tế bị giảm sút 60 ngày x 500.000đ/ngày = 30.000.000đ. Tiền tổn thất tinh thần 25 tháng lương cơ sở = 45.000.000đ. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị hại cũng không cung cấp được bất cứ chứng cứ hay hóa đơn chứng từ, hay hợp đồng lao động, bảng lương để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của bị hại anh Đoàn Ngọc S, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
[5] Quan điểm và đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được ghi nhận.
[6] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo anh Đoàn Ngọc S không được chấp nhận, nên anh S phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ.
[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356; Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Không chấp nhận kháng cáo của bị hại anh Đoàn Ngọc S. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 58/2024/HSST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo: T (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Trần Duy T cho Uỷ ban nhân phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập của bị cáo T trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- - Bị cáo bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Anh Đoàn Ngọc S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Hiệu lực của Bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Kiều Lương |
Bản án số 372/2024/HSPT ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 372/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vào lúc 10 giờ 30 ngày 18/7/2023, tại nhà số 92/7 Trần Ph khu phố 3, phường X, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. T cầm chìa khóa xe mô tô hiệu Vision bằng tay trái đánh trúng vào cổ của Sơn gây chảy máu và thương tích cho anh S với tỷ lệ tổn thương là 02%. Do anh S có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” nên hành vi dùng chìa khóa là hung khí nguy hiểm để gây thương tích của T đã phạm vào điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
