Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 372/2024/DS-PT

Ngày: 14-8-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản”.


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH


- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Sang.

Các Thẩm phán:

Bà Đặng Thị Đồng;

Ông Nguyễn Quốc Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Anh Thư, Thư ký Tòa án nhân dân

tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Quốc Việt – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 238/2024/TLPT-DS, ngày 08-7-2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 38/2024/DS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 326/2024/QĐ-PT, ngày 23 tháng 7 năm 2024; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Hoàng O, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số H, đường Đ, khu phố N, phường N, Thành phố T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có ủy quyền.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Thành C, sinh năm 1977; địa chỉ: Số I, đường N, khu phố A, phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; (theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 12/3/2024, tại Văn phòng C1); anh C có mặt.

- Bị đơn: Chị Âu Vương N, sinh năm 1982 và anh Trần Việt H, sinh năm

1977; cùng địa chỉ: Số C, khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Chị N, anh H vắng mặt có uỷ quyền.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Bà Lê Thị N1, sinh năm 1956. Địa chỉ: Số A đường C, phường D, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo các Hợp đồng uỷ quyền ngày 08/5/2024 tại Văn phòng C2); bà N1 có mặt.

- Người kháng cáo: Chị Âu Vương N và anh Trần Việt H là bị đơn.


NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Hoàng O và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào tháng 9 năm 2023, chị O có cho chị N vay nhiều lần tổng số tiền: 13.000.000.000 đồng (mười ba tỷ) đồng, trong giấy mượn tiền chị N ghi còn thiếu của chị O số tiền 1.800.000.000 đồng (một tỷ tám trăm triệu đồng ngày 18/10/2023). Sau đó, chị N đã trả lại cho chị O được số tiền: 9.050.000.000 (chín tỷ không trăm năm mươi triệu) đồng, còn thiếu lại chị O số tiền: 3.950.000.000 (ba tỷ chín trăm năm mươi triệu) đồng. Ngày 20/11/2023, chị O tiếp tục cho chị N vay thêm tiền mặt: 1.050.000.000 (một tỷ không trăm năm mươi triệu) đồng. Tổng cộng số tiền chị N vay của chị O là: 5.000.000.000 (năm tỷ) đồng. Khi cho vay tiền chị O chuyển khoản cho chị Nguyễn Thị Diễm T, chị T chuyển khoản qua cho chị N nên hai bên không lập hợp đồng. Ngày 20/11/2023, chị N có viết "giấy mượn tiền” đưa cho chị O và ghi thời hạn 01 tháng sẽ trả nợ. Tuy nhiên, khi đến hạn trả nợ thì chị N không chịu trả số tiền trên cho chị O, chị O đã nhiều lần liên hệ thì chị N hứa nhiều lần mà không chịu trả. Tiền lãi cho vay hai bên thoả thuận là 1,66%/1 tháng nhưng không ghi trong giấy mượn tiền.

Chị O khởi kiện yêu cầu chị Âu Vương N và chồng là anh Trần Việt H có nghĩa vụ liên đới trả cho chị O số tiền nợ gốc là: 5.000.000.000 đồng (năm tỷ) đồng và tiền lãi chậm trả, tính từ ngày 20/11/2023 đến khi trả xong số tiền trên, tính đến ngày 20/3/2024 là: 5.000.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 04 tháng = 330.000.000 (ba trăm ba mươi triệu) đồng. Tổng cộng: 5.330.000.000 (năm tỷ ba trăm ba mươi) đồng.

Tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của chị O xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về tiền lãi suất. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lãi suất theo quy định của pháp luật.

- Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Âu Vương N và người đại

diện theo ủy quyền của chị N là bà Lê Thị N1 trình bày:

Chị N xác nhận từ tháng 9/2023 chị N có vay tiền của chị O nhiều lần, tổng cộng số tiền chị N vay chị O là 13.000.000.000 đồng (mười ba tỷ đồng), chị N đã trả cho chị O được 9.050.000.000 (chín tỷ không trăm năm mươi triệu đồng), còn lại 3.950.000.000 (ba tỷ chín trăm năm mươi triệu đồng). Ngày 20/11/2023 chị O và chị N tính toán lại số tiền lãi và gốc chị N còn nợ chị O để chốt lại tiền nợ thì số tiền lãi chị N còn nợ chị O là 1.050.000.000 (một tỷ không trăm năm mươi triệu đồng), chị O yêu cầu chị N viết giấy nợ nên chị N viết. Chị N xác định trong giấy nợ chị N viết còn thiếu số tiền 1.800.000.000 đồng chị O cho chị N vay ngày 18/10/2023. Chị N vay chị O với lãi suất 0,4%/1 ngày, đã trả cho chị O được 664.996.000 đồng thông qua tài khoản của chị T và chị O với mức lãi suất 0,4%/1 là lãi suất vượt quá quy định của Nhà nước nên yêu cầu trừ vào số tiền gốc theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Khi vay tiền của chị O chỉ mình cá nhân chị N vay, vợ chồng chị N độc lập về công việc và kinh tế, do đó mình chị N sẽ có trách nhiệm trả cho chị O, không liên quan gì tới anh H. Số tiền gốc chị N còn thiếu chị O 3.950.000.000 đồng, số tiền 1.050.000.000 đồng là tiền lãi nên chị N chỉ đồng ý trả cho chị O 3.950.000.000 đồng, không đồng ý trả 5.000.000.000 đồng như yêu cầu khởi kiện của chị O.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Trần Việt H là bà Lê Thị N1 trình bày: Anh H không đồng ý yêu cầu khởi kiện của chị O, vì khi vay tiền không có mặt anh H, giữa anh H và chị N độc lập về kinh tế, không có tài sản chung nên anh H không liên quan đến việc vay mượn tiền giữa chị O và chị N.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 38/2024/DS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Hoàng O đối với chị Âu Vương N, anh Trần Việt H về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc chị Âu Vương N, anh Trần Việt H có trách nhiệm liên đới trả cho chị Huỳnh Thị Hoàng O số tiền 5.233.681.000 đồng (năm tỷ hai trăm ba mươi ba triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng), trong đó tiền gốc 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng), tiền lãi 233.681.000 đồng (hai trăm ba mươi ba triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án; án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 11 và ngày 12 tháng 6 năm 2024, bị đơn anh Trần Việt H và chị Âu Vương N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn chị Âu

Vương N và anh Trần Việt H là bà Lê Thị N1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của bị đơn và trình bày bổ sung:

Chị N vay tiền của chị T, tổng các khoản vay là 11.200.000.000 đồng; không có vay số tiền 1.800.000.000 đồng. Chị N đã trả tổng cộng là 9.050.000.000 đồng; như vậy xác định chị N chỉ còn nợ số tiền 2.150.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại số tiền vay gốc như trên.

Trong quá trình vay tiền, chị N đã chuyển khoản trả tiền lãi cho chị T và chị O tổng cộng là 664.996.000 đồng, với mức lãi suất 4%/ngày (12%/tháng). Do đó, đề nghị tính lại tiền lãi và khấu trừ vào tiền gốc.

Việc vay mượn chỉ do một mình chị N thực hiện, anh H không biết, không có vay; vợ chồng chị N, anh H độc lập về kinh tế; khoản vay của chị N không sử dụng vào chi phí sinh hoạt hay nhu cầu thiết yếu của gia đình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không buộc anh H có nghĩa vụ liên đới trả nợ cùng với chị N.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa;

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Trần Việt H và chị Âu Vương N; giữ nguyên bản án sơ thẩm.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Hoàng O vắng mặt có ủy quyền cho người đại diện là anh Nguyễn Thành C; anh C có mặt. Bị đơn chị Âu Vương N và anh Trần Việt H vắng mặt có ủy quyền cho người đại diện là bà Lê Thị N1; bà N1 có mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định của pháp luật.

[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11 và 12 tháng 6 năm 2024 bị đơn anh Trần Việt H và chị Âu Vương N có đơn kháng cáo. Qua xem xét, đơn kháng cáo của anh H và chị N trong thời hạn luật định và hợp pháp theo quy định tại

các Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

[3] Xét kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm của bị đơn anh Trần Việt H và chị Âu Vương N

[3.1] Bị đơn anh H, chị N kháng cáo yêu cầu hủy án, với lý do bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, vì không đưa chị Nguyễn Thị Diễm T tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và không tiến hành đối chất giữa các bên; thấy rằng:

Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bị đơn chị N và người đại diện theo ủy quyền của chị N là bà N1 đều có lời trình bày: Chị N có vay tiền của chị O nhiều lần, với tổng số tiền là 13.000.000.000 đồng và chị N đã trả cho chị O số tiền 9.050.000.000 đồng; chỉ còn nợ chị O số tiền 3.950.000.000 đồng. Các bên đương sự chị O và chị N đều xác nhận chị O chuyển tiền cho chị N vay thông qua tài khoản của chị T và chị T cũng xác nhận chị T là người chuyển tiền của chị O cho chị N vay. Chị T không hưởng lợi hay hưởng hoa hồng trong giao dịch vay mượn giữa chị O và chị N. Đồng thời tại “Giấy mượn tiền” ghi ngày 20-11-2023 (bút lục 13) thể hiện chị O cho chị N mượn tiền và chị T cũng ký tên với tư cách là người làm chứng.

Trong quá trình giải quyết vụ án chị T có lời trình bày và có yêu cầu xin vắng mặt. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa chị Nguyễn Thị Diễm T tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và không tiến hành đối chất giữa các bên có mặt chị T, là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3.2] Bị đơn chị N kháng cáo cho rằng bản án sơ thẩm xét xử không khách quan, không đúng với bản chất và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.2.1] Tại các Biên bản lấy lời khai ngày 08-3-2024, ngày 08-5-2024; Biên bản hòa giải ngày 03-4-2024 và Biên bản đối chất ngày 20-5-2024; bị đơn chị N đều trình bày từ tháng 9-2023 đến 15-11-2023 chị N có vay tiền của chị O nhiều lần, với tổng số tiền là 13.000.000.000 đồng và chị N đã trả cho chị O số tiền 9.050.000.000 đồng. Đến ngày 20-11-2023 chị N còn nợ chị O số tiền 3.950.000.000 đồng và đồng ý trả cho chị O số tiền còn nợ. Như vậy, chị N xác nhận giao dịch vay mượn giữa chị N và chị O đến ngày 20-11-2023 chị N còn nợ chị O số tiền 3.950.000.000 đồng.

[3.2.2] Tại “Giấy mượn tiền” ngày 20-11-2023 (bút lục 13); chị N thừa nhận chữ viết, chữ ký trong “Giấy mượn tiền” là do chính chị N viết và ký tên (có chị T ký người làm chứng). Trong “Giấy mượn tiền” này chị N ghi rõ “tổng nợ 13 tỷ”... “tổng trả: 9 tỷ 50 triệu” ... “Tiền còn mượn em lại 13 tỷ - 9 tỷ 50tr = 3 tỷ 950tr” “Ngày 20-11 chị N mượn 1 tỷ 50tr (TM) vậy ngày 20-11 chị N mượn là 5 tỷ. Hẹn 1 tháng trả lại”

Chị N xác nhận đúng nội dung đã viết trong “Giấy mượn tiền”, nhưng thực chất chị N chỉ nợ chị O là 3.950.000.000 đồng; còn số tiền 1.050.000.000 đồng là tiền lãi của số tiền gốc 3.950.000.000 đồng mà chị O yêu cầu chị N ghi mượn thêm 1.050.000.000 đồng thành tổng cộng mượn 5.000.000.000 đồng. Nhưng ngoài lời trình bày, chị N không có chứng cứ nào chứng minh số tiền 1.050.000.000 đồng là tiền lãi.

[3.2.3] Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của chị N cho rằng chị N không có vay số tiền 1.800.000.000 đồng và tổng số tiền chị N vay chỉ là 11.200.000.000 đồng; chị N đã trả tổng cộng là 9.050.000.000 đồng; như vậy xác định chị N chỉ còn nợ số tiền 2.150.000.000 đồng.

Tuy nhiên, tại Biên bản hoà giải ngày 03-4-2024, chị O đã có lời trình bày trong giấy mượn tiền chị N ghi còn thiếu số tiền 1.800.0000.000 đồng và chị N khẳng định “Tôi xác định trong giấy nợ tôi viết còn thiếu số tiền 1.800.000.000 đồng”.

Do đó, bà N1 cho rằng chị N vay tổng cộng là 11.200.000.000 đồng; chị N đã trả 9.050.000.000 đồng nên chỉ còn nợ số tiền 2.150.000.000 đồng là không có căn cứ chứng minh.

Từ những chứng cứ trên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, về số tiền vay 5.000.000.000 đồng là có căn cứ.

[3.2.3] Bị đơn chị N kháng cáo cho rằng đã trả tiền lãi cho chị O tổng cộng là 664.996.000 đồng; trong đó chuyển cho chị T 473.996.000 đồng và chuyển trực tiếp cho chị O 191.000.000 đồng, với mức lãi suất 12%/tháng.

Tuy nhiên, số tiền chuyển khoản từ chị N cho chị T không ghi nội dung chuyển khoản trả lãi cho chị O và các tin nhắn zalo do chị N cung cấp thể hiện không đúng các khoản tiền vay của chị O cho chị N vay mà còn thể hiện các khoản tiền vay, tiền lãi giữa chị O với chị T. Riêng số tiền có ghi trong tin nhắn tiền của chị T (chị N) và chị N có chuyển khoản cho chị O số tiền 166.000.000 đồng, được chị O xác nhận có nhận tiền lãi của chị N là 166.000.000 đồng và trình bày đây là tiền lãi của khoản vay trước đã trả 9.050.000.000 đồng tiền gốc. Riêng số tiền chị N chuyển khoản cho chị O 25.000.000 đồng, vào ngày 09-02-2024 là tiền lãi của số tiền vay 5.000.000.000 đồng.

Do đó, chị N cho rằng đã chuyển trả lãi cho chị O số tiền 473.996.000 đồng thông qua tài khoản của chị T là không đủ căn cứ để kết luận; vì chị N cũng thừa nhận giữa chị T và chị N cũng có mối quan hệ qua lại mượn tiền.

[3.2.4] Chị N vay của chị O số tiền 5.000.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 tháng nhưng chưa thanh toán là vi phạm nghĩa vụ của bên vay tài sản. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng lãi suất 10%/năm (tương đương 0,83%/tháng) theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, buộc bị đơn thanh toán tiền lãi là 233.681.000 đồng (sau khi đã trừ số tiền lãi chị O đã nhận của chị N 25.000.000 đồng) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3.3] Đối với yêu cầu kháng cáo của anh H, chị N, về việc không buộc anh H có trách nhiệm liên đới cùng chị N trả nợ cho chị O; thấy rằng:

Tại thời điểm chị N vay tiền của chị O thì vợ chồng chị N, anh H là quan hệ vợ chồng hợp pháp; còn đang sống chung nhà; cùng sinh hoạt trong gia đình. Chị N vay tiền với mục đích kinh doanh, lo cho cuộc sống chung, phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình. Do đó, mặc dù chỉ có chị N ký tên vay tiền của chị O, nhưng anh H cùng phải chịu trách nhiệm liên đới do chị N thực hiện theo quy định tại các Điều 27, Điều 30, Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc anh H cùng có nghĩa vụ liên đới với chị N trả nợ cho chị O là có căn cứ.

[4] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Trần Việt H và chị Âu Vương N; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nhận.

[6] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên anh H và chị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;


QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Trần Việt H và chị Âu Vương N

- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 38/2024/DS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

Tuyên xử:

Căn cứ vào các Điều 26, 39, 92, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 288, 357, 463, 465, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 27, Điều 30, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Hoàng O đối với chị Âu Vương N, anh Trần Việt H về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc chị Âu Vương N, anh Trần Việt H có trách nhiệm liên đới trả cho chị Huỳnh Thị Hoàng O số tiền 5.233.681.000 đồng (năm tỷ hai trăm ba mươi ba triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng), trong đó tiền gốc 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng), tiền lãi 233.681.000 đồng (hai trăm ba mươi ba triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Âu Vương N, anh Trần Việt H phải chịu 113.234.000 (một trăm mười ba triệu hai trăm ba mươi tư nghìn) đồng. Hoàn trả cho chị O số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 56.624.500 đồng (năm mươi sáu triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn năm trăm đồng) theo biên lai thu số 0010888 ngày 01/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh

3. Về án phí dân sự phúc thẩm:

3.1 Chị Âu Vương N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0011326, ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Chị N đã nộp xong án phí phúc thẩm.

3.2 Anh Trần Việt H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0011327, ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Anh H đã nộp xong án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


Nơi nhận:

  • - VKSND.TTN;
  • - TAND. thị xã HT;
  • - Chi cục THADS thị xã HT;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP TAND tỉnh;
  • - Lưu tập án DSPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Thị Kim Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 372/2024/DS-PT ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 372/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Hoàng O - Âu Vương N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger