|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 372/2023/HS-ST
Ngày 19-12 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Bích Thuỷ.
Ông Hoàng Phương Nam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thanh Huế – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 343/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 342/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Quốc Đ (Tên gọi khác: C), sinh ngày 15/3/1996 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Tổ A, khu V,phường H, thành phố H, tỉnhThừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V, sinh năm 1964 và bà Trần Thị Q, sinh năm 1965; Vợ con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không;
Về nhân thân:
- Ngày 24/5/2017, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi” Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo Quyết định số 024513/QĐ-XPHC.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/9/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa.
2. Trần T (Tên gọi khác: R), sinh ngày 24/7/1999 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: D T,phường T, thành phố H, tỉnhThừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần T1 (đã chết) và bà Võ Thị Thu S, sinh năm 1971; Vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Về nhân thân:
- Ngày 15/8/2021, bị Công an phường T, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi” Sử dụng trái phép chất ma tuý”(Quyết định số 0008175)
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/9/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Anh Trương Tiến Đ1, sinh ngày 26/4/2001; Địa chi: 50 T, phường T, thành phố H; vắng mặt.
+ Phòng cảnh sát cơ động Công an tỉnh T;
Người đại diện theo uỷ quyền của Phòng cảnh sát cơ động Công an tỉnh T:
Ông Cao Minh K, sinh năm 1976; địa chỉ: Phòng cảnh sát cơ động Công an tỉnh T; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Nguyễn Thị Minh T2, sinh ngày 15/2/2006; Địa chỉ: 2 T, phường G, thành phố H; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của cháu T2: Ông Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1964; Địa chỉ: 2 T, phường G, thành phố H; vắng mặt.
- Người làm chứng:
Ông Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1964; Địa chỉ: 2 T, phường G, thành phố H; vắng mặt.
Ông Phan Văn T3, sinh năm 1985; Địa chỉ: Lô H khu Q, phường H, thành phố H; vắng mặt.
Bà Hồ Thị Kim L, sinh năm 1968; Địa chỉ: 1 T, phường G, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quốc Đ và Trần T là bạn bè quen biết với nhau ngoài xã hội. Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên T và Đ thống nhất cùng nhau đi trộm cắp tài sản. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 04/09/2023, T điều khiển xe mô tô (không gắn biển số) nhãn hiệu CUBJAPAN màu đen, số máy: 9FMB12502314, số khung: BAUMJD502314 (xe do Đ mượn mượn trước đó của cháu Nguyễn Thị Minh T2, sinh ngày: 15/02/2006, nơi cư trú: 2 T, phường G, thành phố H) chở Đ đi trên các tuyến đường thành phố H để trộm cắp. Khi T chở Đ đến khu vực cửa N, đường Ô, phường Đ, thành phố H, T và Đ phát hiện 01 (một) chiếc ba lô màu đen để trên yên xe mô tô nhãn hiệu AirBlade, biển số 75H1-441.46 (ba lô của anh Trương Tiến Đ1 (sinh ngày: 26/04/2001; nơi cư trú: E T, phường P, thành phố H), là chiến sĩ nghĩa vụ thuộc Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh T), đang bận làm nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu tại khu vực Đ, thành phố H. Thấy không có người trông giữ, nên T dừng xe, quan sát cảnh giới, Đ1 đi đến lấy trộm chiếc ba lô của anh Trương Tiến Đ1 rồi lên xe mô tô tẩu thoát. Khi đi đến khu vực công viên N, phường P, thành phố H, thì T và Đ1 dừng xe mở ra kiểm tra, thấy bên trong ba lô có đồ dùng quân trang ngành Công an nhân dân và đồ dùng cá nhân của anh Trương Tiến Đ1 gồm:
* Đồ quân trang ngành Công an trong ba lô gồm:
- 01 (một) khẩu súng rulo màu đen, nhãn hiệu: SĐN-E112, số hiệu: 095024 cùng với bọc da của khẩu súng (là loại công cụ hỗ trợ theo giấy phép sử dụng số 4620300207/GP do Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh T cấp ngày 04/5/2020);
- 05 (năm) viên đạn cao su, kích thước 0,8cm x 04cm;
- 01 (một) gậy nhựa màu trắng đen, kích thước 45cm;
- 01 (một) dây đeo chéo bằng da màu nâu, có lô gô ngành Công an nhân dân, dài 90cm;
- 01 (một) mũ kê pi Cảnh sát nhân dân, sản xuất năm 2019;
* Đồ dùng cá nhân của anh Trương Tiến Đ1 gồm:
- 01 (một) balo màu đen, nhãn hiệu 511 Rush 12, kích thước 35cm x 45cm;
- 01 (một) bộ đàm nhãn hiệu Motorola, part number: AZHABS21895;
- 01 (một) bộ đàm nhãn hiệu Baofeng, số ID: 2017FP3280;
- 01 (một) bộ đàm nhãn hiệu Baofeng, số ID: 2017FP2633;
- 01 (một) loa mini nhãn hiệu Tronsmart màu đen;
- 01 (một) cục pin sạc dự phòng màu đen;
- 01 (một) gậy sắt màu đen, dài 25cm (loại gậy dạng thu gọi từng đốt), gậy này do anh Trương Tiến Đ1 nhặt được trước đó.
Sau đó, T và Đ1 thỏa thuận với nhau đem cất giấu 01 khẩu súng cùng 05 (năm) viên đạn cao su, một loa nghe nhạc mini và một cục pin sạc dự phòng tại nhà của T, còn những đồ vật khác (nêu trên) T và Đ1 vẫn để trong ba lô rồi đem vứt tại bãi rác gần cây xăng P, phường P, thành phố H.
Đến khoảng 19 giờ 10 cùng ngày, anh Phan Văn T3 (sinh năm: 1985, cư trú tại: Lô H, khu Q, phường H, thành phố H) là công nhân Công ty M trong quá trình dọn rác đã phát hiện chiếc ba lô mà Đ1 và T đã vứt bỏ tại bãi rác, anh T3 kiểm tra thấy có các đồ dùng, trang phục ngành Công an nên đã báo và đến giao nộp cho Cơ quan Công an.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số 1577/KL-HĐĐGTS ngày 06/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố H kết luận:
Tổng trị giá các tài sản nêu trên là: 3.047.698 đồng (ba triệu không trăm bốn mươi bảy nghìn sáu trăm chín mươi tám đồng).
Đối với 01 (một) gậy sắt màu đen, dài 25cm (loại gậy dạng thu gọn từng đốt), gậy này do anh Trương Tiến Đ1 nhặt được trước đó, không đủ cơ sở để định giá trị.
* Về vật chứng vụ án tạm giữ: Quá trình điều tra đã thu giữ được toàn bộ số tài sản, vật chứng của vụ án nêu trên.
Ngoài ra, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố H còn tạm giữ 01(một) xe mô tô, nhãn hiệu CUBJAPAN màu đen, số máy: 9FMB12502314; số khung: BAUMJD502314 (xe không gắn biển số).
Quá trình điều tra, các bị can đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình; các bị can đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn là phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
* Về xử lý vật chứng:
Ngày 13/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản là đồ dùng quân trang ngành Công an nhân dân cho ông Cao Minh K1 - đại diện phòng Cảnh sát Cơ động Công an tỉnh T; trả lại tài sản là đồ dùng cá nhân cho anh Trương Tiến Đ1 là chủ sở hữu và người quản lý hợp pháp về tài sản.
Đối với xe mô tô, nhãn hiệu CUBJAPAN màu đen, số máy: 9FMB12502314; số khung: BAUMJD502314 (xe không gắn biển số) là của ông Nguyễn Văn Q1 (sinh năm: 1974; nơi cư trú: 2 T, phường G, thành phố H), ông Q1 cho con gái của mình là cháu Nguyễn Thị Minh T2 (sinh năm 2006) sử dụng. Sau đó, cháu T2 cho bị can Đ1 mượn xe. Quá trình điều tra xác định ông Q1 và cháu T2 đều không biết việc bị can Đ1 và T mượn xe sử dụng để đi trộm cắp tài sản nên ngày 10/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định xử lý vật chứng đã trả lại xe mô tô cho ông Q1 là có căn cứ.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, đại diện theo ủy quyền của bị hại đã nhận lại tài sản, không ai có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Tại bản cáo trạng số 362/CT-VKSTPH ngày 13/11/2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc Đ và Trần T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc Đ và Trần T phạm tội” Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc Đ từ 08 tháng đến 10 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giư ngày 07/9/2023.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Trần T từ 06 tháng đến 08 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giư ngày 07/9/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, đại diện theo quỷ quyền của bị hại đã nhận lại tài sản, không có ai yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về vật chứng: Đối với xe mô tô, nhãn hiệu CUBJAPAN màu đen, số máy: 9FMB12502314; số khung: BAUMJD502314 (xe không gắn biển số) là của ông Nguyễn Văn Q1, ông Q1 cho con gái của mình là cháu Nguyễn Thị Minh T2 sử dụng. Sau đó, cháu T2 cho Đ mượn xe. Quá trình điều tra xác định ông Q1 và cháu T2 đều không biết việc Đ và T mượn xe sử dụng để đi trộm cắp tài sản nên ngày 10/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định xử lý vật chứng đã trả lại xe mô tô cho ông Q1 là có căn cứ.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Quốc Đ và Trần T đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Quốc Đ và Trần T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 04/09/2023, tại đoạn đường Ông Ích K2(gần cửa ngăn – Đại nội H), phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế Nguyễn Quốc Đ và Trần T đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, quản lý tài sản, lén lút cùng nhau trộm cắp tài sản đồ dùng cá nhân và một số đồ quân trang ngành công an nhân dân của anh Trương Tiến Đ1 được phòng cảnh sát cơ động Công an Tỉnh T trang bị, với tổng giá trị tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 3.047.698 đồng. Với hành vi này, các bị cáo Nguyễn Quốc Đ và Trần T đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố các bị cáo về hành vi trên là có căn cứ và đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Các bị cáo Nguyễn Quốc Đ và Trần T là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp đến quyền sở hữu tài sản của người khác đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì tham lam, lười lao động nên các bị cáo vẫn cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân nên các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội đã gây ra.
Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, Trong đó Nguyễn Quốc Đ là người thực hành còn Trần T là người giúp sức trước khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã có sự bàn bạc, với nhau. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy cũng cần phải xem xét đánh giá đến mức độ và hành vi phạm tội của mỗi bị cáo đã gây ra nhằm áp dụng đúng mức hình phạt đối với từng bị cáo trong vụ án, cụ thể:
Bị cáo Nguyễn Quốc Đ là người trực tiếp khởi xướng và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên phải chịu trách nhiệm chính. Bị cáo Trần T dù biết bị cáo Đ thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng không ngăn cản, đồng thời trực tiếp sử dụng và điều khiển xe mô tô chở bị cáo Đ chạy thoát rồi đem tài sản về nhà cất giấu nên bị cáo T là người giúp sức tích cực và phải chịu trách nhiệm chung trong vụ án nhưng với vai trò thấp hơn bị cáo Đ.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng: Các bị cáo Nguyễn Quốc Đ và Trần T có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục phạm tội; khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn được quy định tại các điểm h,i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Từ nhận định và căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, đại diện theo uỷ quyền của bị hại đã nhận lại tài sản, không có ai yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô, nhãn hiệu CUBJAPAN màu đen, số máy: 9FMB12502314; số khung: BAUMJD502314 (xe không gắn biển số) là của ông Nguyễn Văn Q1, ông Q1 cho con gái là cháu Nguyễn Thị Minh T2 sử dụng. Sau đó, cháu T2 cho Đ mượn xe. Quá trình điều tra xác định ông Q1 và cháu T2 đều không biết việc Đ và T mượn xe sử dụng để đi trộm cắp tài sản nên ngày 10/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định xử lý vật chứng đã trả lại xe mô tô cho ông Q1 là có căn cứ.
Đối với ông Nguyễn Văn C1 và cháu Nguyễn Thị Minh T2 là chủ sở hữu, quản lý xe mô tô mà Nguyễn Quốc Đ đã mượn. Sau đó Đ và T đã sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nhung ông Q1 và cháu T2 đều không biết nên không có cơ sở để xử theo quyy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Quốc Đ và Trần T phải chịu án phí hình sự theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Đ 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 07/9/2023.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Trần T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Trần T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 07/9/2023.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc các bị cáo Nguyễn Quốc Đ và bị cáo Trần T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng( Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hương Lan |
Bản án số 372/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 372/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc Đạt trộm cắp tài sản
