|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 371/2023/HSST Ngày: 28/12/2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh;
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Bá Huynh;
- Bà Phạm Thị Mai Anh.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội;
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 404/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 407/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Mã Thị Y, sinh năm 1993; HKTT: Thôn G, C, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Mã Văn C, sinh năm 1972, con bà: Hoàng Thị C1, sinh năm 1971; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Có 03 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2022. Tiền án; tiền sự: Không.
Ngày 27/6/2023, Công an quận T khởi tố bị can đối với Mã Thị Y về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 2 điều 175 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo bị giữ khẩn cấp, tạm giữ ngày 31/5/2023. Ngày 09/6/2023, được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Tạm giữ. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại đều vắng mặt:
- + Anh Phạm Trung Đ, sinh năm 1996. HKTT và nơi ở: 192 N, thị trấn A, thành phố Hải Phòng.
- + Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1995. HKTT: Xóm B T, S, Q, Hà Nội. Nơi cư trú: Xóm E, xã T, huyện Q, Hà Nội.
- + Chị Mai Thị H, sinh năm 1993. HKTT: Thôn Đ, P, Sông L, Vĩnh Phúc. Nơi cư trú: Phòng 603, Toà V3 chung cư T, phường P, quận H, Hà Nội.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt:
- + Anh Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1992. Địa chỉ: ngõ A, Đ, phường Đ, quận B, Hà Nội;
- + Anh Đặng Xuân T, sinh năm 1989. HKTT: tổ B, phường T, quận H, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2022, Mã Thị Y làm việc cho một công ty chuyên buôn bán sữa cho nhiều cửa hàng đại lý trên cả nước. Khoảng tháng 7/2022, do cần tiền chi tiêu cá nhân và trong quá trình mua bán, giao nhận hàng hóa cho khách, Y nhận thấy có sơ hở nên nảy sinh ý định tạo tài khoản mạng xã hội ảo và đứng ra nhận trung gian mua bán hàng hóa rồi lừa đảo chiếm đoạt tài sản để không bị phát hiện. Để thực hiện ý định, Y tạo lập tài khoản Zalo “Tổng kho hàng ngoại” và tài khoản Z “T1” sau đó vào các hội nhóm trên mạng xã hội Zalo để tìm kiếm những người có nhu cầu mua bán hàng hóa để lừa chiếm đoạt tài sản.
Vụ thứ nhất: Khoảng 10h44' ngày 15/07/2022, Y vào một nhóm Zalo (Y không nhớ tên nhóm) và thấy có tài khoản Zalo “Hữu Hướng” của anh Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1992, chỗ ở: ngõ A, Đ, phường Đ, B, thành phố Hà Nội có nhu cầu mua sữa nhãn hiệu Ensure Vanilla, loại hộp 400g của Đ. Yên xem giá thị trường thì loại sữa này có giá 300.000 đồng/1 hộp nên Y đã nhắn tin chào hàng với anh H1 có loại sữa này bán giá 290.000 đồng/hộp (rẻ hơn 10.000 đồng) nên anh H1 đồng ý mua 12 thùng (tương đương 288 hộp) và cho địa chỉ giao hàng tại Chung cư A, phường T, quận N, thành phố Hà Nội. Sau đó, Y tiếp tục lên các hội nhóm Z về buôn sữa để tìm người bán sữa Ensure V loại hộp 400g thì thấy có một tài khoản Zalo “Tổng kho Anh Đ” (là tài khoản của anh Phạm Trung Đ - Sinh năm 1996, chỗ ở: số A N, thị trấn A, Hải Phòng) rao bán sữa Ensure Vanilla loại hộp 400g với giá 300.000 đồng/1 hộp. Yên đặt mua anh Đ 12 thùng sữa trên và hẹn giao hàng về địa chỉ do anh H1 cung cấp kèm theo số điện thoại của Y là 0867.557.340. Y dặn anh Đ là khi nào giao sữa đến nơi thì gọi cho Y, khi kiểm tra và nhận đủ hàng thì Y sẽ chuyển khoản cho anh Đ. Y sau đó cũng nhắn tin cho anh H1 sau khi người giao sữa đến, nhận và kiểm tra đầy đủ hàng thì chuyển khoản cho Y vào tài khoản số 0541000331772 tại ngân hàng V2 (là tài khoản của chị Phạm Thị O - Sinh năm 1982, HKTT: số B, ngõ F, Hoàng Văn T2, K, T, Hà Nội, là người làm tóc, do Y nhờ nhận hộ tiền). Khoảng 12h30 cùng ngày, anh Đ thuê ship giao hàng đến Chung cư A, phường T, quận N, thành phố Hà Nội, anh H1 kiểm hàng thì phát hiện có 1 thùng sữa bị móp méo nên thông báo trả lại cho Y và Y cũng thông báo lại cho anh Đ. Anh Đ sau đó đã tính lại số tiền 11 thùng sữa với Y là 79.200.000 đồng. Anh H1 sau khi kiểm tra và nhận 11 thùng sữa đã chuyển khoản thanh toán cho Y số tiền 76.560.000 đồng vào tài khoản số 0541000331772 của chị O. Sau khi chị O báo nhận được tiền, Y đã tắt máy điện thoại và chặn liên lạc với anh Đ và anh H1. Sau đó, Y nhờ chị O đi rút cho Y số tiền 75.000.000 đồng còn lại 1.560.000 đồng Y trả tiền công cho chị O. Số tiền chiếm đoạt được, Y đã tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 10h ngày 23/5/2023, tại quán cà phê T3 ở số B, phố C, T, N, Hà Nội, chị Nguyễn Thị M (sinh năm 1995, chỗ ở: xóm E, xã T, Q, Hà Nội) sử dụng tài khoản zalo “Nguyễn Thị M” đăng tin cần mua sản phẩm “The collagen" trong hội nhóm zalo. Mã Thị Y sử dụng tài khoản zalo “T1” cùng tham gia trong nhóm và thấy tin mua hàng của chị M trên nhóm nên Y đã nhắn tin chào bán sản phẩm “the collagen” với giá 1.200.000 đồng/1 hộp. Chị M tin tưởng nên đặt mua 30 hộp với giá 36.000.000 đồng. Đồng thời sau đó Y tìm hiểu và nhắn tin với tài khoản Zalo “hàng đức” (chưa rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua sản phẩm “the collagen” của người này và đề nghị giao dịch tại số B T, T, N, Hà Nội. Yên sau đó báo lại địa chỉ cho chị M thì chị M đề nghị chuyển hàng đến xóm E xã T, Q, Hà Nội. Y yêu cầu tài khoản zalo “hàng đức” chụp ảnh hàng sau đó chuyển tiếp hình ảnh cho chị M và yêu cầu chị M đặt cọc số tiền 25.000.000 đồng vào số tài khoản 0731000725583 tại ngân hàng V2 (là tài khoản của anh Nguyễn Văn L - Sinh năm 1986, HKTT: thị trấn C, huyện L, Bắc Giang - là người làm dịch vụ nhận chuyển khoản, trả tiền mặt có thu phí) và chụp ảnh giao dịch gửi cho Y. Sau khi chị M chuyển khoản tiền và Y nhận được tiền từ anh L, Y đã chặn liên lạc với chị M và tài khoản Zalo “hàng đức”. Tài khoản zalo “hàng đức” do không nhận được tiền thanh toán nên cũng không chuyển hàng cho Y theo thỏa thuận.
Vụ thứ ba: Khoảng 10h sáng ngày 22/5/2023, Y sử dụng tài khoản zalo “T1” nhắn tin rao bán sản phẩm Viên chống nắng Carotin Mivolis cho tài khoản zalo “Buôn hàng xách tay” (là tài khoản của anh Đặng Xuân T - Sinh năm 1989, HKTT: tổ B phường T, H, Hà Nội) với giá 92.000 đồng/1 hộp. Anh T đồng ý đặt mua 100 hộp thuốc và hẹn Y ship hàng đến địa chỉ N Đ, T, H, Hà Nội vào chiều ngày 23/5/2023. Sau đó, Y nhắn tin hỏi mua sản phẩm này của tài khoản zalo “Mai Thi H2” (là tài khoản của chị Mai Thị H - Sinh năm: 1993, HKTT: X5, T, Q, Hà Nội) với giá 110.000 đồng/1 hộp. Sau khi thỏa thuận giá cả mua bán với hai bên, Y báo cho chị H giao 100 hộp viên chống nắng Carotin Mivolis đến địa chỉ N Đ, T, H, Hà Nội (là địa chỉ của anh T yêu cầu), chị H đồng ý. Tuy nhiên đến sáng ngày 23/05/2023, anh T thông báo đặt thêm 20 hộp nữa (tổng cộng anh T lấy 120 hộp viên chống nắng) nên Y thông báo lại cho chị H, chị H đồng ý. Khoảng 14h ngày 23/05/2023, do hàng không đủ nên chị H giao trước 30 hộp thuốc, sau khi có hàng sẽ giao thêm 90 hộp thuốc nữa và chị H chốt với Y số tiền thanh toán là 13.000.000 đồng. Sau khi thống nhất, chị H đã thuê ship đi giao hàng và gọi điện thoại cho Y thì Y gọi cho anh T xuống kiểm tra nhận hàng. Anh T sau khi kiểm tra và nhận hàng đã chuyển tiền cho Y hai lần (một lần là 2.735.000 đồng, một lần là 8.244.000 đồng) với tổng số tiền là 10.979.000 đồng, đến số tài khoản 0731000725583 ngân hàng V2 của anh Nguyễn Văn L và chụp ảnh giao dịch gửi cho Y. Khi nhận tiền xong, Y chặn tin nhắn zalo của cả chị H và anh T rồi đến cửa hàng của anh L để nhận tiền mặt (do trước đó Y gọi điện thoại cho anh L nhờ nhận tiền chuyển khoản trả phí). Anh T sau khi nhận 120 hộp viên thuốc chống nắng Carotin M1 đã bán hết ngay sau đó nên cơ quan điều tra không thu giữ được vật chứng.
Vật chứng thu giữ của Mã Thị Y: 01 điện thoại Iphone 7 màu trắng hồng.
Tại cơ quan điều tra, Mã Thị Y đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản Kết luận định giá số 255 ngày 28.09.2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận N, xác định: 11 thùng sữa, bên trong mỗi thùng có chứa 24 hộp sữa nhãn hiệu Ensure Powder Vanilla 400g. Trị giá tài sản là: 11 thùng x 24 hộp/thùng x 300.000 đồng/hộp= 79.200.000 đồng.
Tại bản Kết luận định giá số 202/20.09.2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận N, xác định: 120 hộp viên chống nắng có chữ nước ngoài, trên nhãn ghi “Mivolis” loại 30 viên/vỉ, 2 vỉ/ hộp, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, chất lượng: Không đủ cơ sở định giá tài sản.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh và tham khảo giá viên chống nắng có chữ nước ngoài, trên nhãn ghi “Mivolis” tại nhiều của hàng thuốc trên địa bàn nhưng đều không xác định được giá trị do không có bán trên thị trường. Chị Mai Thị H khai 120 hộp thuốc viên chống nắng là hàng xách tay mua trên mạng nên chị không có hóa đơn chứng từ, chị H đồng ý với kết quả định giá của UBND quận N nhưng số tiền chị bỏ ra mua thuốc là thật nên chị H yêu cầu Y bồi thường 13.000.000 đồng giá trị 120 hộp viên chống nắng theo thỏa thuận mua bán.
Do địa điểm chị Mai Thị H giao hàng và bị chiếm đoạt tài sản tại N Đ, T, H, Hà Nội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N có văn bản trao đổi về thẩm quyền giải quyết vụ án với Công an quận H. Kết quả Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H thống nhất để Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N giải quyết theo quy định pháp luật.
Đối với Phạm Thị O, người Yên nhờ nhận tiền của anh Nguyễn Hữu H1, tại cơ quan điều tra chị O khai: chị O người làm tóc ở phố H mà Y quen biết từ trước. Y nói với chị O bị mất chứng minh nhân dân nên không rút được tiền ở ngân hàng nên nhờ chị O nhận tiền bán sữa của khách hàng vào tài khoản của chị O và nhờ chị O rút tiền ở ngân hàng hộ. Sau đó Y trả công cho chị O 1.560.000 đồng. Do chị O không biết tiền Y nhận là tiền vi phạm pháp luật nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với chị Phạm Thị O.
Đối với anh Nguyễn Văn L, người Yên nhờ nhận tiền của chị M và anh T có thu phí dịch vụ, do anh L không biết tiền Y nhờ nhận là do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Về dân sự: Anh Phạm Trung Đ yêu cầu bồi thường 79.200.000 đồng; Chị Nguyễn Thị M yêu cầu bồi thường 25.000.000 đồng; Chị Mai Thị H yêu cầu bồi thường số tiền 13.000.000 đồng giá trị 120 hộp viên chống nắng.
Lời khai nhận tội của Mã Thị Y phù hợp với lời khai của các bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với dự liệu chuyển khoản ngân hàng và tài liệu điều tra khác.
Tại bản cáo trạng số 372/CT-VKS-NTL ngày 24/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Mã Thị Y về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, bị cáo Mã Thị Y khai nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 2, Điều 174; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015: xử phạt bị cáo Mã Thị Y từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 31/5/2023 đến ngày 09/6/2023.
Xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 màu trắng hồng, có lắp sim.
Về dân sự: Chị Mai Thị H, chị Nguyễn Thị M đã nhận được tiền bồi thường nên không có có yêu cầu gì nên không đề cập. Buộc bị cáo bồi thường cho anh Phạm Trung Đ số tiền 39.200.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: xét thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại đến vụ án không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Mã Thị Y khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, kết luận định giá tài sản, phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Vụ thứ nhất: Khoảng 10h44' ngày 15/07/2022, tại Chung cư A, phường T, N, Hà Nội, Mã Thị Y đã có hành vi gian dối chiếm đoạt 11 thùng sữa Ensure V1 (loại hộp 400g) trị giá 79.200.000 đồng của anh Phạm Trung Đ.
Vụ thứ hai: Khoảng 10h ngày 23/5/2023, tại quán cà phê T3 ở số B, phố C, T, N, Mã Thị Y đã có hành vi gian dối chiếm đoạt 25.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị M.
Vụ thứ ba: Khoảng 14h ngày 23/05/2023, tại N Đ, T, H, Hà Nội, Mã Thị Y đã có hành vi gian dối chiếm đoạt 120 hộp viên thuốc chống nắng Carotin Mivolis của chị Mai Thị H (trị giá theo thỏa thuận mua bán là 13.000.000 đồng) sau đó bán lại cho anh Đặng Xuân T được tổng số tiền là 10.979.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản đã chiếm đoạt là 117.200.000 đồng.
[3] Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, bị cáo phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 của Bộ Luật hình sự, nên cần phải có hình phạt nghiêm để giáo dục bị cáo trở thành người tốt và phòng ngừa chung. Do vậy hành vi nêu trên của bị cáo Mã Thị Y đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.
[4] Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thân nhân tốt, chưa có tiền án tiền sự; Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo đã khắc phục hoàn toàn hậu quả cho bị hại là chị Mai Thị H và chị Nguyễn Thị M, bị cáo đã khắc phục được một phần hậu quả cho anh Phạm Trung Đ. Bị cáo được các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên thì phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- - Chị Mai Thị H và chị Nguyễn Thị M đã nhận được tiền bồi thường và không có yêu cầu về dân sự nên HĐXX không xem xét.
- - Buộc bị cáo bồi thường cho anh Phạm Trung Đ số tiền 39.200.000 đồng.
[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 màu trắng hồng, có lắp sim.
[8] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Mã Thị Y là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[9] Về đề nghị của Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Mã Thị Y từ 30 tháng đến 36 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội.
[10] Về án phí: Bị cáo Mã Thị Y phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
[11] Bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Mã Thị Y phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.Áp dụng: Điểm c, khoản 2, Điều 174; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015;
Xử phạt bị cáo Mã Thị Y 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2023 đến ngày 09/6/2023.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015:
- - Chị Mai Thị H và chị Nguyễn Thị M đã nhận được tiền bồi thường và không có yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không xem xét.
- - Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Phạm Trung Đ số tiền 39.200.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 331, Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
- - Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 màu trắng hồng, gắn thẻ sim (Vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm theo biên bản giao nhận vật chứng số 69 ngày 29/11/2023).
Về án phí: Bị cáo Mã Thị Y phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.920.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo Mã Thị Y có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo những phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Thị Kim Thanh |
Bản án số 371/2023/HSST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 371/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Mã Thị Yên bị xét xử về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS
