|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 371/2023/HS-ST
Ngày: 28/11/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Thẩm
Ông Nguyễn Đình Cát
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Hoài
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Báu - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 315/2023/TLST- HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 396/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo :
- Họ và tên: Trần Thị Thùy D - Sinh năm 1996; Tên gọi khác: Không Nơi ĐKNKTT: khối A, phường H, thành phố V, Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: khối A phường Q, thành phố V, Nghệ An; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Quang S và con bà: Hoàng Thị T; A, chị em ruột: 3 người, bị cáo là con thứ nhất; Chồng: Nguyễn Văn N, sinh năm: 1989; Con: có 6 con ( lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2022); Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/6/2023 đến ngày 12/6/2023. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Trần Quang A- sinh năm 2004; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKNKTT và trú tại: K, phường C, thành phố V, Nghệ An; Giới tính: Nam Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Quang S và bà Hoàng Thị T; A, chị em ruột: 3 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/6/2023 đến ngày 12/6/2023. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Trần Anh H- Sinh năm 2001; Tên gọi khác: Không Nơi ĐKNKTT và trú tại: khối E, phường H, thành phố V, Nghệ An; Giới tính: Nam Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh giáo: Không Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông : Trần Ngọc T1 và con bà: Lê Thị H1; A, chị em ruột: 2 người, bị cáo là con thứ nhất Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/6/2023 đến ngày 15/6/2023. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Công P - Sinh năm 2005; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKNKTT và trú tại: khối A, phường H, thành phố V, Nghệ An; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông : Nguyễn Trung N1 và con bà: Nguyễn Thị Hồng Thắm A1, chị em ruột: 2 người, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2023 đến ngày 21/7/2023. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ ngày 28/5/2023, Trần Thị Thùy D, Trần Quang A, Trần Anh H và Nguyễn Công P đã mang theo hung khí là 02 thanh kiếm đến nhà Nguyễn Duy T2 ở số nhà E, đường N, thuộc phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, dùng điện thoại phát trực tiếp, chửi bới thô tục với âm lượng lớn. Hành vi đó đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận như sau: Nguyễn Văn N lên mạng xã hội facebook sử dụng tài khoản “MN N” đăng bài nội dung: “Ae có ai thấy thằng T2 bình hiếp dâm đường P ko chỉ cho tui cấy”. Sau đó khoảng 1 tiếng, T2 lên mạng xã hội Facebook sử dụng tài khoản “Thắng B” đăng bài với nội dung: “ Minh Nhật ơi đập đá ít thôi tau sợ mi quá. Tml”. Trần Thị Thùy D là vợ của N đọc được nội dung T2 đăng bài trên mạng xã hội nên rủ các đối tượng Trần Quang A (là em trai) và Nguyễn Ngọc T3 (em chồng của D) đi tìm T2 nói chuyện. T2 biết được sự việc nên gọi điện thoại cho D nói: “em về đi, anh gọi cho N rồi, anh đang đi Hà Nội, có chi mai anh về ta nói chuyện” nên D cùng các đối tượng đi về.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 28/5/2023, Nguyễn Thị Kiều H2 (vợ T2) thấy D đưa hình ảnh nhà mình lên mạng xã hội Facebook nên gọi điện thoại cho D nói chuyện thì xảy ra mâu thuẫn dẫn đến chửi bới nhau. Lúc này, T2 đang ngồi bên cạnh H2 nên giật điện thoại và nói với D: “Dung à tau sợ chi mi, mi ngon xuống nhà tau ở 51, Nguyễn Quốc T4”. Nghe T2 nói vậy, D gọi điện cho Quang A: “Thằng Thắng B1 gọi điện thoại hẹn chị xuống, về đi với chị” (Mục đích rủ Quang A đi đánh nhau với T2), Quang A đồng ý nên D đưa con về gửi bà ngoại. Khi xuống đến sảnh chung cư thì gặp Nguyễn Quang V điều khiển xe ô tô mazda 3 biển số 37A 923.10 màu đỏ chở N và Đậu Đình H3 về. Tại đây, D kể lại sự việc cho N và nói đi tìm T2. N nói D ở nhà để N gọi điện thoại nói chuyện với T2, nhưng D không đồng ý, nên N nhờ V chở đến nhà T2. V đồng ý rồi chở N, D và H3 đến nhà mẹ của D tại số E đường H, phường C, thành phố V để gửi con, rồi đi đến nhà T2. Khi đi đến số A Đ, thành phố V, D nói V dừng xe lại rồi xuống xe đi vào nhà bà nội N2 để lấy hung khí. Lúc này, gặp Trần Anh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, mang biển số 37B3 -236.35 đi đến, D kể lại sự việc cho H nghe và nói H vào nhà bà nội của N2 lấy hung khí nhưng cửa khóa không vào được, D nói H về số E, đường H để lấy hung khí. Sau đó, D lên xe ô tô Mazda 3 biển số 37A 923.10 do V điều khiển chở D, N2 và H3 đến nhà T2, còn H điều khiển xe mô tô đến số nhà E Hồ H để lấy 02 (hai) thanh kiếm. Khi D gọi điện thoại cho Trần Quang A thì Quang A đang cùng với Trần Quang L, (em trai Quang A), Nguyễn Công P và Nguyễn Ngọc T3 (em chồng D) đang dự tiệc cưới tại khách sạn G. Nghe điện thoại D gọi xong Trần Quang A gọi Quang L, T3 và P ra sảnh khách sạn kể chuyện và rủ đi cùng hỗ trợ cho D đánh nhau với T2. Tất cả đồng ý, T3 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Fadil mang biển số 37A-824.14 chở đến chỗ D. Trên đường đi, Quang L nói T3 điều khiển xe về nhà Quang L tại số E, đường H, phường C, thành phố V lấy hung khí nhưng T3 nói không cần chuẩn bị hung khí làm gì (vì T2 chơi với T3), nhưng Quang L không đồng ý nên T3 điều khiển xe chở các đối tượng về nhà Quang L. Khi đi đến số A, đường Đ, phường C, thành phố V gặp H đang điều khiển xe mô tô đi đến đó, T3 dừng xe lại. Biết H đã lấy hung khí để đến hỗ trợ D đánh T2, nên Quang L xuống đi cùng xe với H. Còn T3 điều khiển xe ô tô chở Quang A, P đi đến nhà T2. Khi đến trước cửa nhà T2 tại số E, đường N, do T2 không ở nhà nên D cầm điện thoại lên mạng xã hội facebook, sử dụng tài khoản “My H4” phát trực tiếp chửi bới, thách thức T2 được một lúc thì Quang A lấy điện thoại từ tay D tiếp tục chửi bới T2 và nói choa ra nhà mi đây. Việc chửi bới với âm lượng to, sử dụng nhiều ngôn từ thô tục, xúc phạm, gây bức xúc cho nhiều người dân đang đi trên đường N, ảnh hưởng đến cuộc sống thường ngày của những người dân sống xung quanh nhà T2, gây hoang mang, lo lắng ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương. Đến khoảng 20 giờ 46 phút cùng ngày, T2 điều khiển xe ô tô đi về. Lúc này, Quang L cầm kiếm chạy đến chém một nhát vào cửa ô tô phía trước bên lái. Tiếp đến, D chạy đến xe T2, đồng thời D lấy kiếm trên tay Quang L và nói “đưa đây, thằng ni để đó tau đập cho”. Lúc này, N2 chạy đến can ngăn đồng thời đẩy T2 vào nhà và đóng cửa cổng lại. D cầm kiếm đứng ngoài cùng Quang L, Quang A tiếp tục chửi bới, thách thức T2. Lúc này, D cầm kiếm tiếp tục chửi; Quang L cầm kiếm nói: “mi ra đây, mi ra đây”. Nguyễn Công P chạy đến lấy kiếm trong tay D và đâm vào cửa cổng nhà T2. H chạy lại cổng. Lúc này D, Quang A và H dùng chân đạp nhiều cái vào cửa cổng và chửi bới, xúc phạm T2. Trần Quang L và P tiếp tục cầm kiếm lao vào để chém T2 nhưng được anh Nguyễn Duy S1 (anh trai T2) và một số người đi cùng can ngăn, được một không thấy T2 đi ra nên các đối tượng lên xe bỏ về.
Cáo trạng số 357/CT-VKS –TPV ngày 16/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã truy tố các bị cáo Trần Thị Thùy D, Trần Quang A, Trần Anh H và Nguyễn Công P về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 điều 318 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện VKS tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 BLHS
Xử phạt bị cáo Trần Thị Thùy D, Trần Quang A, Trần Anh H và Nguyễn Công P mỗi bị cáo từ 24 đến 27 tháng tù cho hưởng án treo. Thử thách từ 48 tháng đến 54 tháng. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thanh kiếm làm bằng kim loại dài 90cm có cán cuốn bên ngoài bằng dây vải dài 25cm, lưỡi kiếm làm bằng kim loại dài 75m, bên ngoài có vỏ kiếm làm bằng nhựa dài 75cm, hiện có tại kho vật chứng Chi cục thi hành án thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Các bị cáo đồng ý với hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố, không có tranh luận gì, mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng khác của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai nhận vào khoảng 21 giờ ngày 28/5/2023, Trần Thị Thùy D, Trần Quang A, Trần Anh H và Nguyễn Công P, Trần Quang L đã mang theo hung khí là 02 thanh kiếm đến nhà Nguyễn Duy T2 ở số nhà E, đường N, thuộc phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, dùng điện thoại phát trực tiếp, chửi bới thô tục với âm lượng lớn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi mà Trần Thị Thùy D, Trần Quang A, Trần Anh H và Nguyễn Công P, Trần Quang L thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Gây rối trật tự công cộng”. Tuy nhiên, Trần Quang L sinh ngày 13/2/2008, chưa đủ 16 tuổi nên cơ quan điều tra, VKS không khởi tố, truy tố là đúng quy định pháp luật. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điều 318 BLHS.
Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là liều lĩnh và nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội cần xử lý nghiêm.
[2.1] Xét vai trò các bị cáo: Trong vụ án này Trần Thị Thùy D là người khởi xướng, trực tiếp livetream chửi bới, cầm kiếm la hét nên chịu trách nhiệm chính trong vụ án; Trần Quang A là người trực tiếp cùng D cầm điện thoại livetream chửi bới thực hiện nên chịu trách nhiệm thứ hai trong vụ án; Nguyễn Công P, Trần Anh H cùng tham gia đạp cửa chửi bới nên chịu trách nhiệm thứ ba trong vụ án.
[2.2] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ các bị cáo:
- Đối với Trần Thị Thùy D là người khởi xướng, trực tiếp livetream chửi bới, cầm kiếm la hét, đạp cửa đòi đánh nhau. Bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình nhưng do có mâu thuẫn nên nhất thời phạm tội. Bị cáo sử dụng kiếm thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm. VKS truy tố bị cáo theo điểm b khoản 2 điều 318 BLHS là đúng người, đúng tội cần xử lý nghiêm. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần vì quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ông ngoại có công với cách mạng, v bản thân bị cáo có 6 người con (lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2022) cần tạo điều kiện cho bị cáo nuôi các con nhỏ nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý và giáo dục như đề nghị của đại diện VKS là đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng pháp luật.
- Đối với Trần Quang A là người cầm điện thoại giúp D cùng trực tiếp livetream chửi bới, cầm kiếm la hét, đạp cửa đòi đánh nhau. Bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình nhưng nhất thời phạm tội, cần xử lý nghiêm. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần vì quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ông ngoại có công với cách mạng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý và giáo dục như đề nghị của đại diện VKS là đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng pháp luật.
- Đối với Trần Anh H tham gia với vai trò giúp sức tích cực, là người trực tiếp đi lấy kiếm giúp D, đến nơi bị cáo đạp cửa đòi đánh nhau. Bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình nhưng nhất thời phạm tội, cần xử lý nghiêm. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần vì quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, đầu thú nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý và giáo dục như đề nghị của đại diện VKS là đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng pháp luật.
- Đối với Nguyễn Công P tham gia với vai trò giúp sức tích cực, là người trực tiếp cầm kiếm đòi đánh nhau. Bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình nhưng nhất thời phạm tội, cần xử lý nghiêm. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần vì quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, đầu thú nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý và giáo dục như đề nghị của đại diện VKS là đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng pháp luật.
Trong vụ án này còn có Nguyễn Văn N, Nguyễn Ngọc T3, Nguyễn Quang V và Đậu Đình H3 đi cùng các bị cáo đến nhà T2. Khi đi các đối tượng được biết đi để D nói chuyện với T2 và có thể đánh nhau thì giúp sức. Khi đến đó do không gặp T2, nên D đã bức xúc chửi bới thách thức dọa nạt T2 thig N, T3, V và H3 đứng yên không tham gia và còn có can ngăn nên nên không phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” vì vậy miễn xét.
[3] Về vật chứng: - 01 (một) thanh kiếm làm bằng kim loại dài 90cm có cán cuốn bên ngoài bằng dây vải dài 25cm, lưỡi kiếm làm bằng kim loại dài 75m, bên ngoài có vỏ kiếm làm bằng nhựa dài 75cm, hiện có tại kho vật chứng Chi cục thi hành án thành phố V, tỉnh Nghệ An hiện không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với vật chứng là 01 (một) thanh kiếm mà các bị cáo sử dụng, 01 (một) điện thoại của Trần Thị Thùy D được xác định là phương tiện phạm tội nhưng do sau khi xẩy ra sự việc các bị cáo đã vứt bỏ, cơ quan điều tra chưa thu hồi được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã tách ra để tiếp tục truy tìm xử lý sau nên miễn xét.
[4] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 BLHS xử phạt: Bị cáo Trần Thị Thùy D 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thử thách 60 (sáu mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị Trần Thị Thùy D cho UBND phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục bị cáo.
Căn cứ điểm b khoản 2 điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 BLHS xử phạt: Bị cáo Trần Quang A 27 (hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thử thách 54 (năm mươi bốn) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị Trần Quang A cho UBND phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục bị cáo.
Căn cứ điểm b khoản 2 điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 BLHS xử phạt: Bị cáo Trần Anh H 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị Trần Anh H cho UBND phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục bị cáo.
Căn cứ điểm b khoản 2 điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 BLHS xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công P 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị Nguyễn Công P cho UBND phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về tang vật: Căn cứ điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thanh kiếm làm bằng kim loại dài 90cm có cán cuốn bên ngoài bằng dây vải dài 25cm, lưỡi kiếm làm bằng kim loại dài 75m, bên ngoài có vỏ kiếm làm bằng nhựa dài 75cm, hiện có tại kho vật chứng Chi cục thi hành án thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An theo phiếu nhập kho vật chứng số NK 2024/42 ngày 11/08/2023.
Án phí: Căn cứ điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 điều 12, điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí: Buộc bị cáo Trần Thị Thùy D, Trần Quang A, Trần Anh H và Nguyễn Công P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An./.
|
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa |
|
Nơi nhận
|
Lê Thị Hải Yến |
Bản án số 371/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH về hình sự sơ thẩm về tội gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 371/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
