|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 371/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 06 - 2024 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Sức
- Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 06 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 229/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 04 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 314/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Bích T, sinh năm 1992; địa chỉ: số A tổ A khóm P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có đơn xin vắng mặt;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T1 là Luật sư – Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T – Chi nhánh huyện C; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang, có mặt;
- Bị đơn: Ông Đỗ Quan Q, sinh năm 1982; địa chỉ: số E ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn bà Ngô Thị Bích T trình bày:
Bà Ngô Thị Bích T với ông Đỗ Quan Q tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân vào năm 2012, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, ông Q tham gia tệ nạn xã hội, ông Q dùng lời lẽ hâm doạ đến tính mạng bà T, cụ thể vào năm 2020 ông Q dùng cồn trực tiếp đổ vào người bà T làm tổn hại đến tính sức khoẻ, quá trình sống chung không tôn trọng lẫn nhau nên giữa bà T với ông Q không sống chung từ 2022 cho đến nay, không còn liên lạc với nhau, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, bà T yêu cầu ly hôn với ông Q.
- Về con chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Đỗ Quan Q trình bày: Ông Q và bà T kết hôn vào năm 2012, hôn nhân do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kêt hôn theo quy định. Quá trình sống chung có cãi vã nhau, nên lúc nóng giận có dùng chai cồn đổ vào người bà T, sự việc đã xảy ra vào năm 2020, vợ chồng về sống chung đến năm 2022 thì bà T tự ý bỏ nhà đi, ông Q không liên hệ được với bà T, nên ông Q không đồng ý ly hôn bà T.
- Về con chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt;
Bị đơn ông Đỗ Quan Q thống nhất ly hôn với bà T;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thị T1 trình bày luận cứ bảo vệ cho nguyên đơn Ngô Thị Bích T: Hôn nhân giữa bà T với ông Q là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Tuy nhiên, quá trình sống chung ông, bà có mâu thuẫn, do ông Q tham gia tệ nạn xã hội, dùng lời lẽ hâm doạ tính mạng bà T, từ đó bà T sinh ra lo sợ nên bà T không còn sống chung với ông Q từ năm 2022 cho đến nay, tại phiên toà ông Q thống nhất thuận tình ly hôn với bà T nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà T với ông Q; về con chung; về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định pháp luật.
- Đối với nguyên đơn: bà Ngô Thị Bích T từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Đối với bị đơn: ông Đỗ Quan Q từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Ngô Thị Bích T đối với ông Đỗ Quan Q; về con chung; về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bà Ngô Thị Bích T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đỗ Quan Q, nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Đỗ Quan Q với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Bà Ngô Thị Bích T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của nguyên đơn không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T.
[2] Về nội dung: Về quan hôn nhân giữa bà T với ông Q là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng về quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau, ông Q có hành vi bạo lực về tinh thần, sức khoẻ của bà T, nên bà T không còn sống chung với ông Q từ năm 2022 cho đến nay. Tại phiên toà, ông Q thống nhất thuận tình ly hôn với bà T.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà T với ông Q mâu thuẫn là có thật, thể hiện trong cuộc sống vợ chồng ông Q có hành vi bạo lực về tinh thần và sức
khoẻ của bà T nên giữa ông, bà đã không còn sống chung từ năm 2022 cho đến nay, hôn nhân ông, bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, và việc thuận tình ly hôn giữa bà T với ông Q là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa bà T với ông Q theo Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình là phù hợp.
Về quan hệ con chung: không có, không đặt ra xem xét giải quyết.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
[3] Qua phát biểu ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà Ngô Thị Bích T tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về quan điểm giải quyết vụ án nên được chấp nhận.
[4] Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về quan điểm giải quyết vụ án nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu của bà Ngô Thị Bích T được chấp nhận nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Ngô Thị Bích T với ông Đỗ Quan Q.
- Về con chung: không có, không yêu cầu xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
- Về án phí: bà Ngô Thị Bích T phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0006809, ngày 29/03/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Diệu |
Bản án số 371/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 371/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
