Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 371/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 20/9/2024.

V/v: “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên - Cán bộ Hội Phụ nữ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai;
  2. Ông Trần Công Danh - Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 1766/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 320/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 411/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Đặng Thị H, sinh năm 1960;
  • - Bị đơn: Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1957;
  • Cùng địa chỉ: D, tổ I, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • (Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H1 vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Đặng Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông H1 kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông vào ngày 25/3/1986. Trong thời gian đầu chung sống có hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn và thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống, đã nhiều lần cả hai đã cố gắng khắc phục để tiếp tục cuộc sống vợ chồng nhưng không có kết quả. Xét thấy đến nay tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không đạt được nên bà làm đơn xin được ly hôn với ông Phạm Văn H1.

Về con chung: Bà H xác định có 02 con chung tên Phạm Minh D, sinh ngày 17/8/1986 và Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 10/3/1989. Hiện cả hai cháu đều đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn ông Phạm Văn H1 đã được tống đạt giấy triệu tập và các văn bản theo trình tự tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc, tham gia tố tụng cũng như xét xử nên không có lời khai, văn bản trình bày ý kiến về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay, ngoài các chứng cứ các đương sự đã cung cấp từ khi thụ lý, nguyên đơn, bị đơn không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:

  • + Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; Xác định quan hệ pháp luật, tư cách của đương sự và thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật.
  • + Về việc giải quyết vụ án: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H đối với ông H1. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết vì đương sự không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tố tụng:

- Về tư cách tố tụng và quan hệ tranh chấp:

Bà Đặng Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Phạm Văn H1. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định bà H là nguyên đơn, ông H1 là bị đơn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn”.

- Về thẩm quyền giải quyết: Qua xác minh tại địa phương, ông Phạm Văn H1 có đăng ký thường trú tại địa phương, trước đây ông có sinh sống tại địa chỉ D, tổ I, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nhưng hiện đã bỏ đi nơi khác sinh sống, không rõ đi đâu, làm gì và ở đâu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Về thủ tục tố tụng khác: Bà Đặng Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận, còn bị đơn ông Phạm Văn H1 đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Bà Đặng Thị H và ông Phạm Văn H1 chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cấp giấy chứng nhận kết hôn số 08/86 ngày 25/3/1986. Đối chiếu quy định Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 xác định hôn nhân của bà H và ông H1 là hợp pháp.

Bà H khai sau quá trình chung sống ban đầu thì hai bên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Đến nay tình cảm vợ chồng đã không còn, không còn quan tâm đến nhau.

Xét thấy: Tại biên bản xác minh ngày 19 tháng 7 năm 2024, Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai xác định không có biết mâu thuẫn của bà H và ông H1 vì các đương sự không trình báo, không yêu cầu hòa giải. Quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt giấy triệu tập và các văn bản tố tụng theo quy định cho ông H1 nhưng ông H1 không đến làm việc, tham gia tố tụng cũng như tham gia phiên tòa xét xử. Điều này chứng tỏ ông H1 đã không còn thiết tha, không còn quan tâm và mặc kệ quan hệ hôn nhân với bà H. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà H và ông H1 là có thật, trầm trọng, cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, bà H được ly hôn ông H1 là phù hợp.

Về con chung: Bà H xác định có 02 con chung tên Phạm Minh D, sinh ngày 17/8/1986 và Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 10/3/1989. Hiện cả hai cháu đều đã trưởng thành và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Bà H xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Ông H1 không có lời khai, văn bản trình bày ý kiến nên không đủ cơ sở xác định đối với phần tài sản chung, nợ chung. Vì vậy, đối với phần tài sản chung, nợ chung tách ra giải quyết bằng vụ việc khác khi các đương sự có yêu cầu giải quyết theo quy định.

[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Nguyên đơn bà Đặng Thị H có đơn xin miễn giảm án phí và thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, khoản 4 Điều 147, 227, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị H đối với ông Phạm Văn H1.

Cho bà Đặng Thị H được ly hôn ông Phạm Văn H1.

  1. Về con chung: Bà H xác định có 02 con chung tên Phạm Minh D, sinh ngày 17/8/1986 và Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 10/3/1989. Hiện cả hai cháu đều đã trưởng thành và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  2. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không xem xét, giải quyết.
  3. Về nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.

Đồng thời, ông H1 vắng mặt không có lời khai nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

  1. Về án phí: Bà Đặng Thị H thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
  1. Quyền kháng cáo: Bà Đặng Thị H, ông Phạm Văn H1 được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP . Biên Hòa;
  • - Chi cục thi hành án dân sự TP. Biên Hòa;
  • - UBND phường (xã) nơi ĐKKH;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Thị Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 371/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 371/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger