Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 371/2024/HS-ST

Ngày: 07/8/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Chí Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo.

2. Ông Nguyễn Cửu Long.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thế Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Lữ Ngọc Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 347/2024/HSST ngày 02 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử số: 403/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng M, sinh năm 2005, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: E17/24D ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú hiện tại: E17/24D ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao Động tự do; Con ông Đinh Tấn Q, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980.

Tiền án,tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Võ Thị Huỳnh A, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số F, khu phố D, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: Số A đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Danh Thị Bảo N, sinh năm 2002, địa chỉ thường trú: Kv P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; Địa chỉ tạm trú: Số A đường số B, đường N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hoàng M (sinh ngày 12/6/2005) là môi giới bất động sản và cộng tác viên của Công ty TNHH Đ, địa chỉ số B Đường F, phường T, thành phố T. Ngày 25/8/2022, chị Võ Thị Huỳnh A được M giới thiệu hợp tác đầu tư, chuyển nhượng lô đất số 12 trong dự án PeruD tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng do chị Trần Thị Thanh T là chủ đầu tư. Sau khi nghe M tư vấn và đảm bảo với chị A sau khi thanh toán số tiền đợt 2 sẽ bán hoàn vốn và có lời cho chị A nên chị A đã đồng ý mua. Chị A và chị T cùng thống nhất ký kết Hợp đồng hợp tác đầu tư và chuyển nhượng quyền sử dụng đất có điều kiện số PRD12/25082022 với bên chủ đầu tư là Trần Thị Thanh T (Bên A), khách hàng là Võ Thị Huỳnh A (Bên B), và Công ty TNHH Đ là bên làm chứng (Bên C) với giá là 3.164.636.3090 đồng. Theo thỏa thuận của Hợp đồng thì ngày 25/8/2022, chị A phải đặt cọc cho chị Trần Thị Thanh T số tiền là 100.000.000 đồng và đến trước ngày 14/9/2022, chị A phải thanh toán số tiền là 58.231.805 đồng đặt cọc đợt 2 cho chị T. Ngay sau khi ký hợp đồng, chị A đã thanh toán số tiền 100.000.000 đồng đặt cọc lần 1 và chuyển tiền cho chị T, nhưng do tài khoản ngân hàng của chị T bị lỗi hệ thống không nhận được tiền nên chị T đồng ý cho chị A chuyển tiền vào số tài khoản 19266226622889 của Công ty TNHH Đ.

Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Hoàng M đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền thanh toán đặt cọc mua đất lần 2 của chị A. Lợi dụng bản thân là môi giới bất động sản cho chị A, M biết rõ thời hạn thanh toán và số tiền phải thanh toán theo đợt của khách hàng. M biết đến trước ngày 14/9/2022 chị A phải thanh toán số tiền đặt cọc đợt 2 cho chị T nên ngày 12/9/2022, M gọi điện cho Danh Thị Bảo N, là bạn bè với M do cùng làm cộng tác viên môi giới bất động sản cho Công ty TNHH Đ và nhờ N nhận giùm cho M số tiền người quen đặt cọc lô đất B. Do tin tường và trước đây M cũng hay nhờ như vậy nên N đồng ý và cho M số tài khoản ngân hàng của mình. Sau khi thống nhất với chị N xong, ngày 13/9/2022, M gọi điện cho chị A và nói chị A đã đến hạn thanh toán tiền đặt cọc mua đất như thỏa thuận và yêu cầu chị A thanh toán số tiền 58.230.000 đồng đợt 2. M nói chị A chuyển tiền vào số tài khoản 0703202539 mở tại Ngân hàng M1, chủ tài khoản tên Danh Thị Bảo N là kế toán của Công ty, sau khi chị A chuyển tiền thành công thì công ty sẽ làm ủy nhiệm chi cho chị A xác nhận việc chị A đã thanh toán tiền. Do tin tưởng, chị A đã chuyển số tiền 58.230.000 đồng vào tài khoản số 0703202539 trên theo yêu cầu của M.

Sau khi chị A chuyển tiền 58.230.000 đồng vào tài khoản của N thì N báo cho M biết, lúc này M chuyển vào tài khoản của N thêm 1.770.000 đồng để cho đủ số tiền 60.000.000 đồng, rồi kêu Ngọc c lại cho M số tiền 60.000.000 đồng và yêu cầu N ghi nội dung chuyển tiền là “CK cọc lô đất B”. Do tài khoản N có hạn mức tối đa 50.000.000 đồng nên N đã chuyển lại cho M số tiền 50.000.000 đồng trước. Đến sáng ngày 14/9/2022, N cùng M và bạn bè trong công ty đi chơi và khi thanh toán tiền nhậu, M kêu N chuyển số tiền 10.000.000 đồng còn lại cho quản lý quán nhậu để thanh toán tiền nhậu. Số tiền chiếm đoạt được của chị A, M đã tiêu xài cá nhân hết, sau đó M xin nghỉ làm tại công ty và cắt liên lạc với chị A.

Đến ngày 21/11/2022, nhân viên pháp chế của Công ty gọi điện cho chị A báo là chị A chưa thanh toán số tiền 58.231.805 đồng như đã thỏa thuận. Ngày 28/11/2022, chị A đến Công ty TNHH Đ để hỏi thì được biết M đã không đi làm và không liên lạc với Công ty, số tiền 58.230.000 đồng mà chị A đã chuyển khoản cho M thì M đã không nộp lại cho Công ty. Biết mình bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên chị A đã đến Công an phường T trình báo vụ việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Nguyễn Hoàng M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng vụ án:

  • - Số tiền 58.230.000 đồng, không thu hồi được.
  • - 01 USB chứa đoạn ghi âm cuộc nói chuyện giữa chị Võ Thị Huỳnh ANguyễn Hoàng M do bị hại giao nộp.

Tại Cáo trạng số: 339/CT-VKSTPTĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Hoàng M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c, khoản 2, Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c, khoản 2, Điều 174; điểm b, s, khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng M từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của kiểm sát viên, bị cáo đồng ý với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng, không có ý kiến gì khác. Bị cáo trình bày không yêu cầu chỉ định luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, bị cáo nay đã đủ tuổi thành niên và tự thực hiện bào chữa, tự tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử, nhận thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện tuận thủ theo đúng pháp luật quy định.

[2] Về nội dung: Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Hoàng M đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử, có đủ cơ sở kết luận:

2.1 Do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Hoàng M đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền thanh toán nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của chị Võ Thị Huỳnh A, là khách hàng mà M là người giới thiệu. Lợi dụng bản thân là môi giới bất động sản của Công ty TNHH Đ, địa chỉ số B Đường F, phường T, thành phố T và là người đã giới thiệu cho chị A mua lô đất số 12 trong dự án PeruD tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. M biết rõ thời hạn thanh toán tiền đợt 2 của chị A là trước ngày 14/9/2022, nên vào ngày 12/9/2022, M nhờ người bạn làm chung là Danh Thị Bảo N nhận tiền chuyển khoản giùm và nói dối là người quen cùng góp tiền mua chung lô đất B để chị N tin tưởng đồng ý nhận tiền giúp M. Tiếp đó, ngày 13/9/2022, M chủ động liên lạc và yêu cầu chị A nộp tiền đặt cọc đợt 2 vào số tài khoản của chị N. M nói với chị A đây là kế toán của Công ty, sau khi chuyển xong M sẽ báo Công ty làm ủy nhiệm chi cho chị A để xác định việc chị A đã thanh toán tiền. Do tin tưởng nên chị A đã chuyển số tiền 58.230.000 đồng từ tài khoản của chị A vào tài khoản của chị N. Sau khi chị N nhận được tiền, M yêu cầu chị Ngọc c lại cho M và sử dụng số tiền trên để tiêu xài cá nhân hết mà không nộp lại cho Công ty.

Hành vi trên của Nguyễn Hoàng M là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

2.2 Đối với hành vi của Danh Thị Bảo N, chị N không biết việc M lừa đảo chiếm đoạt tài sản, không nhận lợi ích gì từ việc nhận tiền giùm cho M nên không có căn cứ xử lý.

2.3 Đối với người bị hại Phan Ngọc Minh L, qua xác minh được biết anh L đã bán nhà từ năm 2018, không còn thực tế cư trú tại địa phương và không rõ cư trú ở đâu nên chưa làm việc được, không xác định được nhân thân lai lịch của Nguyễn Thị Tuyết H1. Hiện không có các tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh việc M thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của anh L số tiền 51.000.000 đồng, do đó chưa đủ căn cứ xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh, xử lý theo luật định.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về các tình tiết tăng nặng: Không có

Về các tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:

Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo M là nghiêm trọng, bị cáo khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi (17 năm, 03 tháng tuổi) nay có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo M là cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, cần phải xử phạt bị cáo M với mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Không có.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Xét thấy 01 USB chứa đoạn ghi âm cuộc nói chuyện giữa chị Võ Thị Huỳnh ANguyễn Hoàng M do bị hại giao nộp là chứng cứ giải quyết vụ án xét cho lưu kèm hồ sơ vụ án.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hoàng M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Hoàng M có quyền kháng cáo bản án này theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Áp dụng Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng M 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.

3. Về xử lý vật chứng: 01 USB chứa đoạn ghi âm cuộc nói chuyện giữa chị Võ Thị Huỳnh ANguyễn Hoàng M cho lưu kèm hồ sơ vụ án

4. Về trách nhiệm dân sự: không xét giải quyết

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Bị cáo Nguyễn Hoàng M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an TP Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Chí Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 371/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 371/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger