TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 371/2025/DS- ST
Ngày: 30-9-2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng dân sự
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Độ.
Bà Nguyễn Thị Sen.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Như Hoàng Hải- Thư ký Tòa án nhân khu vực 8 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 58/2025/TLST - DS ngày 02 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 61/2025/QĐ-DS ngày 28 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thu H, sinh năm 1991; Địa chỉ: P, chung cư C Bộ C2, phường B (phường N, quận L cũ), thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty L; Địa chỉ trụ sở: Hồ N, H, xã V (thị trấn V, huyện Ứ cũ), thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Ba Đ - chức vụ: Giám đốc
Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Hà Quang C - Nhân viên Công ty L; có mặt.
- Bị đơn: Công ty Cổ phần C3; Địa chỉ trụ sở: Cụm F, xã Ô (xã H, huyện Đ cũ), thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T - Chức vụ: Giám đốc;
Địa chỉ: Phòng B chung cư V, tổ dân phố A, phường K, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Công ty Cổ phần T1; địa chỉ trụ sở: Số D, đường T, phường B, quận T, thành phố Hà Nội; địa chỉ liên hệ: Tầng E, số nhà A, ngõ B phố H, phường T, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Đức M - Chức vụ: Tổng giám đốc (Theo Giấy chứng nhận ĐKKD thay đổi ngày 08/01/2025); vắng mặt.
- + Công ty Cổ phần Q; địa chỉ trụ sở: Tầng I, tòa L, số D L, phường H, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Tăng Minh V - Chức vụ: Tổng giám đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Trần Ngọc Á - Nhân viên Công ty Cổ phần Q; xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và các lời trình bày của nguyên thì: Do có nhu cầu đầu tư cổ phiếu, bà H đã ký kết Hợp đồng quản lý danh mục đầu tư số 320/2021/HĐQLDM-AFM với Công ty Cổ phần Q với số tiền ủy thác đầu tư là 350.000.000 đồng. Sau khi được giới thiệu và thoả thuận thống nhất về việc mua cổ phần của Công ty Cổ phần T1 từ Công ty Cổ phần C3 (sau đây gọi tắt là “C3 Group"), theo sự ủy thác của bà H, A đã mua 7.000 cổ phần do Công ty T1 phát hành với giá 50.000 đồng/cổ.
Sau đó, bà H đã ký kết các Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần số 0342/2211/2021/FSFG-SFI, ngày 22/11/2021; số 0371/3011/2021/FSFG-SFI ngày 30/11/2021; số 0402/1412/2021/FSFG- SFI ngày 14/12/2021; số 0429/2912/2021/FSFG-SFI ngày 29/12/2021; số 0489/1702/2022/FSFG-SFI ngày 17/02/2022; số 0500/2203/2022/ FSFG-SFI ngày 22/3/2022 và số 0511/3103/2022/FSFG-SFI ngày 31/3/2022. Tổng số vốn đầu tư (mua cổ phiếu) là 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng), tương ứng với 7.000 cổ phần của Công ty T1. Việc ký kết này được thực hiện có sự tham gia của 03 bên, có đầy đủ chữ ký và đóng dấu pháp nhân của C3 và A là công ty quản lý vốn ủy thác cho bà H. Thực hiện theo thỏa thuận, bà H bằng nhiều hình thức khác nhau đã chuyển toàn bộ số tiền mua cổ phiếu, theo thỏa thuận tại các hợp đồng ký kết giữa các bên thông qua C3 - đại diện là ông Nguyễn Văn T. Cùng ngày, tương ứng với từng hợp đồng chuyển nhượng, bà H và Công ty C3 đã ký các thoả thuận bổ sung, được coi là Phụ lục hợp đồng không thể tách rời hợp đồng chuyển nhượng, quy định cụ thể, rõ ràng về việc thỏa thuận C3 Group sẽ thực hiện mua lại số cổ phần bà H đã nhận chuyển nhượng trong thời hạn không quá 05 năm kể từ ngày bà H hoàn tất thanh toán toàn bộ tổng giá trị cổ phần nhận chuyển nhượng.
Trong quá trình đầu tư cổ phiếu của Công ty T1, do Công ty C3 không đảm bảo quyền lợi cho bà H về mặt lợi nhuận, do đó, bà H không tiếp tục đầu tư nữa và muốn bán lại toàn bộ số cổ phiếu mình đã mua trước đó cho C3 theo các thỏa thuận bổ sung. Sau đó, bà H đã rất nhiều lần liên hệ bằng nhiều hình thức khác nhau để đề nghị Công ty C3 thực hiện nghĩa vụ mua lại cổ phần theo đúng thoả thuận đã cam kết nhưng Công ty C3 đều xin gia hạn thời gian thực hiện việc mua lại với lý do Công ty khó khăn về tài chính. Việc C3 không mua lại toàn bộ số cổ phiếu của bà H theo thỏa thuận đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H. Vì vậy, bà H khởi kiện, yêu cầu Toà án Nhân dân khu vực 8 - Hà Nội giải quyết các vấn đề:
- Buộc Công ty cổ phần C3 thực hiện mua lại toàn bộ 7.000 cổ phần bà H đã nhận chuyển nhượng từ các hợp đồng chuyển nhượng số 0342/2211/2021/FSFG- SFI ngày 22/11/2021; số 0371/3011/2021/FSFG- SFI ngày 30/11/2021; số 0402/1412/2021/FSFG-SFI ngày 14/12/2021; số 0429/2912/2021/FSFG-SFI ngày 29/12/2021; số 0489/1702/2022/FSFG-SFI ngày 17/02/2022; số 0500/2203/2022/ FSFG-SFI ngày 22/3/2022 và số 0511/3103/2022/FSFG-SFI ngày 31/3/2022, tương ứng với số tiền là 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng).
- Buộc Công ty cổ phần C3 thực hiện thanh toán quyền lợi bổ sung theo mục 1 Điều 4 của thỏa thuận bổ sung, số tiền 10%/tổng giá trị đầu tư ban đầu/năm. Tạm tính tổng số tiền từ 01/10/2024 đến 01/08/2025 là 10 tháng, số tiền là 29.100.000đồng (Hai mươi chín triệu một trăm nghìn đồng).
- Buộc Công ty cổ phần C3 phải thanh toán lãi suất 10%/năm kể từ sau ngày Tòa án nhân dân Khu vực 8-Hà Nội tuyên án.
- Người đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông Nguyễn Văn T, trình bày: Công ty Cổ phần C3 là công ty con của Công ty Cổ phần T1. Ông là đại diện theo pháp luật của C3 từ tháng 5/2021, trong thời gian ông là đại diện theo pháp luật của C3, ông có đại diện của cho C3 ký hợp đồng thoả thuận mua lại toàn bộ cổ phần của bà Bùi Thu H do Công ty Cổ phần T1 phát hành là 7.000 cổ phần với số tiền là 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng). Sau khi thoả thuận thì C3 Group gặp khó khăn về dòng tiền nên không thực hiện được các cam kết với bà H. Nay bà H khởi kiện, đề nghị bà H đến trụ sở C3 Group gặp đại diện để thoả thuận, đưa ra phương án giải quyết để bảo đảm quyền và lợi ích cho bà H. Trường hợp không các bên không đàm phán thoả thuận được, thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Công ty Cổ phần Q trình bày: Amber Capital không còn bất cứ nghĩa vụ, trách nhiệm liên quan đến yêu cầu khởi kiện của bà H, bởi các lý do:Thứ nhất, A1 nhận ủy thác theo chỉ định của bà Bùi Thu H để mua cổ phần Công ty cổ phần T1 hoàn toàn tuân thủ quy định pháp luật. Amber Capital với vai trò là công ty quản lý quỹ, được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực ủy thác đầu tư, đã cung cấp dịch vụ quản lý danh mục đầu tư cho khách hàng là bà H theo Hợp đồng quản lý danh mục đầu tư số 320/2021/HĐQLDM-AFM ngày 22/11/2021. Bà H là khách hàng ủy thác của Amber Capital từ ngày 22/11/2021 đến ngày 08/11/2023. Trong khoảng thời gian trên, Bà H đã chuyển tài sản ủy thác là tiền mặt với tổng số tiền đã chuyển là 350.000.000 VNĐ (ba trăm năm mươi triệu đồng) (tương ứng 7 lần chuyển), và chỉ định Amber C1 thực hiện mua cổ phần Công ty cổ phần T1 theo từng lần chuyển tiền ủy thác với tổng số cổ phần là 7.000 cổ phần (bảy nghìn cổ phần) với giá mua là 50.000 VNĐ/cổ phần. Đối với từng lần bà H chuyển tài sản ủy thác theo Hợp đồng quản lý danh mục/Phụ lục bổ sung; vốn ủy thác. Sau đó, thông qua các hợp đồng phụ lục giữa hai bên, bà H đã chỉ định Amber C1 mua cổ phần Công ty cổ phần T1. Trên cơ sở chỉ định của bà H, Amber C1 đã thực hiện ký Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần với Công ty cổ phần C3 để mua cổ phần Công ty cổ phần T1. Bà H cũng đã ký xác nhận trong các Hợp đồng chuyển nhượng này. Việc cung cấp dịch vụ ủy thác của Amber C1 cho bà H đã tuân thủ đúng các yêu cầu của bà H và quy định pháp luật. Thứ hai, Hợp đồng ủy thác giữa bà H và Amber C1 đã chấm dứt, thanh lý kể từ ngày 08/11/2023, các bên không còn bất kỳ quyền, nghĩa vụ nào với nhau theo Hợp đồng đã ký kết. Ngày 08/11/2023, Amber C1 và bà H đã ký Biên bản thanh lý Hợp đồng quản lý danh mục, trong đó hai bên thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng quản lý danh mục 320/2021/HĐQLDM-AFM và bà H sẽ nhận lại tài sản ủy thác là 7.000 cổ phần Công ty cổ phần T1 theo phương thức chuyển quyền sở hữu. Cùng ngày, hai bên cũng ký Giấy đề nghị chuyển nhượng/chuyển giao cổ phần từ A Capital cho bà H và Tổ chức phát hành là Công ty cổ phần T1 cũng đã xác nhận việc chuyển quyền này. Như vậy, toàn bộ tài sản ủy thác là cổ phần Công ty cổ phần T1 được Amber Capital chuyển giao cho bà H kể từ ngày 08/11/2023. Hiện tại, Amber C1 không còn bất kỳ quyền và nghĩa vụ nào đối với bà H cũng như không có trách nhiệm liên quan đến đến số cổ phần Công ty cổ phần T1 đang có tranh chấp trong vụ án này. Thứ ba, Amber C1 không có bất kỳ trách nhiệm, mối liên quan nào đến thỏa thuận mua lại số cổ phần Công ty cổ phần T1 mà bà H đang sở hữu giữa bà H và Công ty cổ phần C3. Trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ quản lý danh mục cho bà H (từ ngày 22/11/2021 đến ngày 08/11/2023) và cho đến thời điểm được tiếp cận hồ sơ vụ án, ngoài Hợp đồng quản lý danh mục ký với bà H nêu trên, Amber C1 hoàn toàn không tham gia bất kỳ thỏa thuận, hợp đồng nào khác với bà H và Công ty cổ phần C3 cũng như không được biết, không được cung cấp thông tin và không có bất kỳ mối liên quan nào đến thỏa thuận mua lại số cổ phần Công ty cổ phần T1 mà bà H đang sở hữu giữa bà H và Công ty cổ phần C3.
Bởi vậy, Amber C1 là bên thứ ba ngay tình và hoàn toàn không có quyền, nghĩa vụ gì đối với bà H và Công ty cổ phần C3 liên quan đến thỏa thuận giữa Công ty cổ phần C3 và bà H về việc mua lại cổ phần Công ty cổ phần T1 mà bà H đang sở hữu.
- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho Công ty cổ phần T1, triệu tập đến Tòa án tham gia tố tụng. Tuy nhiên, đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần T1 không đến Tòa làm việc và không ủy quyền cho người khác đến tham gia tố tụng, không gửi văn bản nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không giao nộp các tài liệu chứng cứ cho Tòa án.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần T1 vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Q có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hà Nội tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thu H, buộc Công ty C3 thực hiện mua lại toàn bộ 7.000 cổ phần bà H đã nhận chuyển nhượng với giá 350.000.000 đồng; thực hiện thanh toán quyền lợi bổ sung theo mục 1 Điều 4 của thỏa thuận bổ sung, số tiền 10%/tổng giá trị đầu tư ban đầu/năm, tính từ 01/10/2024 đến 01/08/20251 à 29.100.000đồng và phải thanh toán lãi suất 10%/năm kể từ sau ngày Tòa tuyên án. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tranh chấp phát sinh từ các Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần và các thỏa thuận bổ sung kèm theo giữa bà Bùi Thu H và C3, trong đó C3 Group cam kết mua lại toàn bộ 7.000 cổ phần Công ty Cổ phần T1 đã chuyển nhượng cho bà H trong thời hạn tối đa 05 năm kể từ ngày bà H hoàn tất thanh toán. Quan hệ giữa bà Bùi Thu H và Công ty Cổ phần C3 mặc dù có yếu tố đầu tư tài chính nhưng bà H là cá nhân, không đăng ký kinh doanh, do vậy đây là tranh chấp hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND Khu vực 8 - Hà Nội theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015.
[1.2] Quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự. Bị đơn C3 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung tranh chấp: Theo các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện, từ ngày 22/11/2021 đến 31/3/2022, bà Bùi Thu H và Công ty Cổ phần C3 đã ký các Hợp đồng và thỏa thuận về việc bà H nhận chuyển nhượng cổ phần của Công ty Cổ phần T1 do Công ty TNHH Đ1 sở hữu. Nội dung hợp đồng thể hiện bà H đã thanh toán đầy đủ số tiền mua cổ phần; C3 Group cam kết sau tối đa 05 (năm) năm kể từ khi việc chuyển nhượng hoàn tất và bà H chính thức trở thành cổ đông của S, C3 sẽ mua lại toàn bộ số cổ phần bà H đang sở hữu với giá đã thỏa thuận, đồng thời trả quyền lợi bổ sung 10%/năm kể từ ngày hoàn tất việc chuyển nhượng.
[2.1] Các Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ký từ ngày 22/11/2021 đến 31/3/2022 (gồm 07 hợp đồng) và các thỏa thuận bổ sung kèm theo đều có chữ ký, đóng dấu hợp pháp của C3 và bà H. Người đại diện theo pháp luật của C3 cũng thừa nhận việc ký kết và thừa nhận điều khoản mua lại toàn bộ cổ phần của bà H trong thời hạn tối đa 05 năm. Đây là giao dịch dân sự được xác lập trên cơ sở tự nguyện, phù hợp Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, phù hợp quy định tại Điều 430 BLDS 2015 về điều khoản mua lại trong Hợp đồng mua bán tài sản.
[2.2] Về việc thực hiện nghĩa vụ: Bà H đã thanh toán đầy đủ 350.000.000 đồng cho C3 Group, có chứng từ chuyển tiền và được C3 xác nhận. Đến hạn yêu cầu mua lại, bà H nhiều lần thông báo, C3 thừa nhận “gặp khó khăn về tài chính” nhưng không thực hiện nghĩa vụ mua lại. Theo Điều 280 và Điều 351 BLDS 2015, bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng cam kết; việc không thực hiện là vi phạm hợp đồng và phải chịu trách nhiệm. Vì vậy, bà H yêu cầu Tòa án buộc C3 thực hiện nghĩa vụ mua lại là có căn cứ.
[2.3] Về vai trò của Công ty Cổ phần Q: Amber chỉ tham gia với tư cách đơn vị quản lý danh mục đầu tư theo Hợp đồng số 320/2021/HĐQLDM-AFM, đã hoàn tất việc chuyển giao 7.000 cổ phần cho bà H và thanh lý hợp đồng ngày 08/11/2023. Amber không ký kết thỏa thuận mua lại cổ phần với C3 và bà H. Do đó, căn cứ Điều 288 BLDS 2015 về nghĩa vụ liên đới, Hội đồng xét xử xét thấy A không có nghĩa vụ liên đới với C3 trong việc thực hiện nghĩa vụ với bà H.
[2.4] Về trách nhiệm của Công ty Cổ phần T1: Sailfish là tổ chức phát hành cổ phần, không trực tiếp tham gia thỏa thuận mua lại giữa bà H và C3 và cũng không có tài liệu chứng minh nghĩa vụ liên quan. Do đó, xác định S không phải chịu trách nhiệm trong quan hệ tranh chấp này.
[3] Về yêu cầu thanh toán quyền lợi bổ sung 10%/năm: Căn cứ mục 1 Điều 4 của Thỏa thuận bổ sung giữa hai bên ghi nhận, C3 phải trả quyền lợi bổ sung 10%/tổng giá trị đầu tư/năm nếu không thực hiện mua lại đúng thời hạn. Thỏa thuận này không vi phạm điều cấm, phù hợp Điều 3, Điều 13 và Điều 292 BLDS 2015. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và buộc C3 phải thanh toán trả bà H quyền lợi bổ sung số tiền tính đến 01/8/2025 là 29.100.000 đồng.
[4] Yêu cầu tính lãi chậm thi hành án 10%/năm kể từ ngày tuyên án: Khoản 2 Điều 468 BLDS 2015 cho phép áp dụng mức lãi suất theo thỏa thuận nhưng không vượt quá 20%/năm. Bà H yêu cầu mức lãi 10%/năm là phù hợp nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Công ty cổ phần C3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Số tiền án phí là đồng 379.100.000 x 5% = 18.955.000 đồng.
Bà Bùi Thu H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 117, 275, 281, 351, 430, 440, 468 BLDS 2015; các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 266 của BLTTDS 2015,
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thu H.
- Buộc Công ty Cổ phần C3 thực hiện nghĩa vụ mua lại toàn bộ 7.000 cổ phần của Công ty Cổ phần T1 mà bà H đang sở hữu, với số tiền 350.000.000 đồng.
- Buộc C3 thanh toán 29.100.000 đồng tiền quyền lợi bổ sung (tính đến 01/8/2025) và tiếp tục chịu khoản bổ sung này cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ mua lại.
- Kể từ ngày người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
- Về án phí: Công ty cổ phần C3 phải chịu 18.955.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại bà Bùi Thu H 8.750.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội (nay là Thi hành án dân sự thành phố H) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010699 ngày 02 tháng 6 năm 2025.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hà |
Bản án số 371/2025/DS- ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng dân sự
- Số bản án: 371/2025/DS- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng hợp tác
