Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 10

TỈNH LÂM ĐỒNG

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 371/2025/DS-ST

Ngày: 19 - 11 - 2025

Về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10

TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Trần Thị Thanh Nga.

2. Bà: Lê Thị Kiều Thu.

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thái Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa:

Bà Trương Thị Thơ – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 156/2025/TLST- DS ngày 12/3/2025 “V/v: Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 350/2025/QĐXXST – DS ngày 01 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 377/2025/QÐST – DS ngày 21 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.

Địa chỉ: số G, phố T, phường C, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng:

Ông Nguyễn Thanh C - Chuyên viên xử lý nợ.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1955.

Nơi cư trú: số A, Đ, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là tổ dân phố D, phường P, tỉnh Lâm Đồng).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà: Lê Thị N1, sinh năm 1978 (có đơn xin xử vắng mặt).

Nơi cư trú: số F, Bùi Đình T, phường A, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, thành phố Hồ Chí Minh).

Hiện nay đang chấp hành án tại trại giam X - Đồng Nai.

Tại phiên tòa có mặt đại diện theo uỷ quyền nguyên đơn, vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*/Theo bản tự khai ngày 27/3/2025, người đại diện theo uỷ quyền nguyên đơn ông Nguyễn Thanh C trình bày:

Bà Nguyễn Thị N đã ký Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 131/2019/HĐHM-CN/SHB.132100 ngày 18/04/2019 với Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B với nội dung sau: Giá trị cấp hạn mức tín dụng: 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng chẵn); Thời hạn duy trì hạn mức: 12 tháng (Từ ngày 18/04/2019 đến ngày 18/04/2020); Mục đích vay vốn: Vay bổ sung vốn mua bán hải sản; Lãi suất vay: Lãi suất cho vay trong hạn: được quy định cụ thể tại từng Khế ước nhận nợ. Lãi chậm trả: Trường hợp Bên B không thanh toán lãi đúng hạn, thì Bên B phải trả lãi chậm trả cho Bên A theo mức lãi suất chậm trả quy định của bên A tại thời điểm chậm trả lãi nhưng không vượt quá 10%/năm và được tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với số ngày thực tế chậm trả lãi. Lãi suất áp dụng đối với nợ gốc quá hạn: Trường hợp khoản vay bị chậm thanh toán nợ gốc đến hạn, Bên B phải trả lãi trên dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm nợ gốc bị quá hạn thanh toán và được tính trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với số ngày thực tế chậm trả gốc. Tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp sau:

Toàn bộ đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH382109, số vào sổ cấp GCN: CS00656 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 09/03/2017. Hợp

đồng thế chấp số: 146/2019/HĐTC-CN/SHB.132100 ngày 18/04/2019, đã công chứng tại Văn phòng C1 ngày 18/04/2019, số công chứng 6031, quyển số 07TP/CC - SCC/HĐGD, S1 chi nhánh B đã tiến hành đăng ký thế chấp đối với tài sản thế chấp trên tại chi nhánh Văn Phòng Đ ngày 18/04/2019. Bà Nguyễn Thị N đã nhận số tiền vay 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng chẵn) theo các Khế ước nhận nợ số 02-131/2019/HĐHM-CN/SHB.132100 ngày 17/04/2020. Trong quá trình vay vốn, Bà Nguyễn Thị N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ quy định trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết. S1 Chi nhánh B đã nhiều lần gọi điện thông báo, gửi Thông báo nợ, lập Biên bản làm việc... nhằm xử lý khoản nợ quá hạn, tuy nhiên Bà Nguyễn Thị N thường xuyên không thực hiện theo cam kết trả nợ cho Ngân hàng. Ngân hàng S1 tiếp tục gửi các Thông báo tự xử lý tài sản, và thông báo khởi kiện..., nhưng phía Bà Nguyễn Thị N vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho S1. Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cũng như đảm bảo việc thu hồi vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh, Ngân hàng TMCP S làm Đơn khởi kiện Bà Nguyễn Thị N ra Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận để thu hồi nợ. Tính đến ngày 27/3/2025, Bà Nguyễn Thị N còn nợ tại Ngân hàng TMCP S số tiền Nợ gốc : 2.000.000.000 đồng, Nợ lãi : 2.125.428.337 đồng. Tổng cộng : 4.125.428.337 đồng. Nay Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Q Tòa án xem xét giải quyết:

  1. Bà Nguyên Thi N2 phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ là 4.125.428.337 đồng tính đến ngày 11/02/2025. Trong đó: Nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, Nợ lãi: 2.125.428.337 đồng
  2. Buộc Bà Nguyễn Thị N phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền lãi quá hạn phát sinh quy định tại Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 131/2019/HĐHM-CN/SHB.132100 ngày 18/04/2019 mà Bà Nguyễn Thị N đã ký với Ngân hàng TMCP S kể từ ngày 28/03/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
  3. Trong trường hợp Bà Nguyễn Thị N không trả được nợ, Ngân hàng TMCP S được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số 146/2019/HĐTC-CN/SHB.132100 ngày 18/04/2019, TSBĐ là toàn bộ đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở

và tài sản khác gắn liền với đất số CH382109, số vào sổ cấp GCN: CS00656 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 09/03/2017.

Tại phiên toà, ông Nguyễn Thanh C trình bày:

Yêu cầu bà Nguyễn Thị N trả nợ cho Ngân hàng TMCP S số tiền gốc, lãi và lãi phạt chậm trả tính đến ngày 19/11/2025 là 4.460.601.084 đồng, trong đó gốc là 2.000.000.000 đồng, Nợ lãi là 2.460.601.084 đồng. Nếu bà N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trên thì bà Lê Thị N1 phải trả nợ thay. Nếu bà N1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trên Ngân hàng TMCP S yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên phát mãi tài sản bảo đảm của khoản nợ. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán nợ vay, bà N vẫn tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ nợ vay với Ngân hàng.

*Bị đơn bà Nguyễn Thị N có nơi cư trú số 12, Đ, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là tổ dân phố D, phường P, tỉnh Lâm Đồng). Do bà N thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú nên Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng: “thông báo thụ lý vụ án”, “thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải”, “thông báo kết quả phiên họp”, “quyết định đưa vụ án ra xét xử”, “quyết định hoãn phiên tòa” theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị N.

*/Tại bản tự khai ngày 20/8/2025, bà Lê Thị N1 trình bày:

Bà là chủ tài sản căn nhà tại khu phố E, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, đã dùng tài sản để đảm bảo khoản vay số tiền là 2.000.000.000 đồng cho bà N là mẹ của bà. Nay mẹ bà không có khả năng trả nợ thì bà đồng ý bán tài sản để trả nợ cho ngân hàng và yêu cầu Ngân hàng giảm lãi cho mẹ bà.

Ngày 20/8/2025, bà N1 có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

*/Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25/6/2025 của Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết (nay là Toà án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng) như sau:

- Về đất đai: Thửa đất số: 410, tờ bản đồ số 5, Diện tích 66, 9m², Địa chỉ: khu phố E, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là phường P) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 382109

do Sở TNMT tỉnh B cấp ngày 9/3/2017 đứng tên Nguyễn Thị H1, cập nhật biến động 20/3/2017, cập nhật biến động ngày 16/11/2018 đứng tên bà Nguyễn Thị N.

- Về tài sản gắn liền trên đất: Nhà cấp 3, diện tích xây dựng 43 m², diện tích sàn 95,5m². Hiện trạng tài sản không thay đổi so với thời điểm thế chấp.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, của những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: phía bị đơn bà Nguyễn Thị N có nơi cư trú tại phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là tổ dân phố D, phường P, tỉnh Lâm Đồng). Ngân hàng TMCP S yêu cầu bà Nguyễn Thị N trả nợ khoản vay theo hợp đồng tín dụng. Căn cứ theo qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ Luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng.

Tại phiên tòa hôm nay bà Nguyễn Thị N vắng mặt không có lý do, bà Lê Thị N1 có đơn xin xử vắng mặt. Do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1]Bà Nguyễn Thị N đã ký Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 131/2019/HĐHM-CN/SHB.132100 ngày 18/04/2019 với Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B với số tiền 2.000.000.000 đồng; Thời hạn: 12 tháng (Từ ngày 18/04/2019 đến ngày 18/04/2020); Mục đích vay vốn bổ sung vốn mua bán hải sản (Bà N không có giấy phép đăng ký kinh doanh); Lãi suất vay: là 12,2%/năm, lãi suất cho vay được điều chỉnh 3 tháng/lần. Lãi

suất chậm trả không vượt quá 10%/ năm và được tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với số ngày thực tế chậm trả lãi. Mức lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn là: 150% lãi suất cho vay trong hạn kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn cho đến khỉ khách hàng trả hết dư nợ gốc bị quá hạn.

[2.2] Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà N đã thực hiện đúng theo Hợp đồng cho vay nhưng từ ngày 25 tháng 6 năm 2020 đến nay bà N đã không thanh toán số tiền gốc và lãi theo quy định của Hợp đồng tín dụng. Tính đến ngày 19/11/2025, Hợp đồng 146/2019/HĐTC-CN/SHB.132100, dư nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, Nợ lãi: 2.460.601.084 đồng.

[2.3] Mặc dù, Ngân hàng TMCP S đã có các thông báo thanh toán nợ đối với bà N nhưng cho đến nay bà N vẫn chưa thanh toán số tiền gốc, tiền lãi cho Ngân hàng. Bà N, bà N1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điều khoản của Hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng TMCP S khởi kiện buộc bà N, bà N1 phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP S tính đến ngày 19/11/2025 số tiền gốc là 2.000.000.000 đồng và tiền lãi là 2.460.601.084 đồng và tiền lãi phát sinh trên mức dư nợ gốc từ ngày 20/11/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ mà hai bên đã ký kết thì yêu cầu của Ngân hàng TMCP S có cơ sở chấp nhận.

[3] Đây là việc vay tiền của tổ chức tín dụng nên lãi suất được áp dụng theo hợp đồng tín dụng giữa hai bên đã ký kết.

[4] Về xử lý tài sản thế chấp:

[4.1] Tài sản bảo đảm cho khoản nợ vay: Toàn bộ đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH382109, số vào sổ cấp GCN: CS00656 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 09/3/2017 thể hiện tại Hợp đồng thế chấp số: 146/2019/HĐTC-CN/SHB.132100 ngày 18/4/2019, đã được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 18/4/2019, số công chứng 6031, quyển số 07TP/CC - SCC/HĐGD.

[4.2] Nếu bà Nguyễn Thị N không có khả năng thanh toán khoản nợ trên hoặc thanh toán không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP S thì bà Lê Thị N1 phải có nghĩa vụ trả nợ

thay. Nếu bà Lê Thị N1 không có khả năng thanh toán khoản nợ trên hoặc thanh toán không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP S thì Ngân hàng TMCP S được quyền xử lý tài sản thế chấp trên để thu hồi khoản nợ vay là đúng theo quy định pháp luật.

[5] Về án phí: do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.600.000 đồng, bà N phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S là đúng theo quy định pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 147, Điều 157 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
  • - Điều 463, Điều 464, Điều 465 và Điều 466 Bộ Luật dân sự;
  • - Điều 100, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
  • - Luật Ngân hàng N4;
  • - Luật thi hành án dân sự.
  • - Khoản 02 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2/Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

Buộc bà Nguyễn Thị N trả nợ cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 4.460.601.084 đồng (Bốn tỷ, bốn trăm sáu mươi triệu, sáu trăm lẻ một nghìn không trăm tám mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, N3 lãi tính đến ngày 19/11/2025 là 2.460.601.084 đồng và tiền lãi phát sinh trên mức dư nợ gốc từ ngày 20/11/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ hai bên đã ký kết.

Nếu bà Nguyễn Thị N không có khả năng thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ trên cho Ngân hàng TMCP S thì bà Lê Thị N1 phải có nghĩa vụ trả nợ thay.

Nếu bà Lê Thị N1 không có khả năng thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ trên cho Ngân hàng TMCP S thì Ngân hàng TMCP S xử lý tài sản thế chấp là Thửa đất số 410, tờ bản đồ số 5, Diện tích 66, 9m², tài sản gắn liền trên đất là 01 nhà cấp 3, diện tích xây dựng 43 m², diện tích sàn 95,5m² toạ lạc tại khu phố E, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là phường P) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 382109 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 9/3/2017 đứng tên Nguyễn Thị H1, cập nhật biến động 20/3/2017, cập nhật biến động ngày 16/11/2018 đứng tên bà Nguyễn Thị N được thể hiện tại Hợp đồng thế chấp số 146/2019/HĐTC-CN/SHB.132100 ngày 18/4/2019, đã được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 18/4/2019, số công chứng 6031, quyển số 07TP/CC - SCC/HĐGD.

Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán nợ vay, bà Nguyễn Thị N vẫn tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ nợ vay với Ngân hàng TMCP S.

3/Về án phí:

Bà Nguyễn Thị N phải nộp 112.461.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 56.031.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0002878 do Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Phan Thiết thu ngày 07/3/2025.

Về chi phí xem xét, thẩm định: bà Nguyễn Thị N hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 2.600.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt đại diện theo uỷ quyền nguyên đơn, vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/11/2025). Quyền kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 10 – Lâm Đồng;
  • - Phòng THADS khu vực 10 – Lâm Đồng;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Vũ Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 371/2025/DS-ST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 371/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGÂN HÀNG TMCP S TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN SỤNG VỚI BÀ NGUYỄN THỊ N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger