TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 371/2024/DS-PT Ngày: 30 - 5 - 2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Công Mười
Ông Chung Văn Kết
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên.
Ngày 28, 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 34/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 01 năm 2024 “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 1477/2023/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1200/2024/QĐPT-DS ngày 23 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh T, Bà Hồ Thị Hoài T1.
Địa chỉ: Số C T, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xử vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Anh T: Ông Lê Ngọc T2, sinh năm 1989; Địa chỉ: 2 đường số D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin xử vắng mặt)
2. Bị đơn:
1. Ông Phan Ngọc T3, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số E N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
2. Bà Phạm Phương K, sinh năm 1996;
Người đại diện hợp pháp của bà K: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1959; Cùng địa chỉ: Số E đường N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Trần Thị Bích L;
Địa chỉ: Số E N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (bà L ủy quyền cho ông Phan Ngọc T3 theo giấy ủy quyền số công chứng 09135 quyển số 7, ngày 14/7/2023, Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh).
3.2. Ủy ban Nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ: Số C đường Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Ngô Bảo K1, sinh năm: 1988, giấy ủy quyền số 23/GUQ/UBND ngày 20/12/2022, (có đơn xin vắng mặt)
3.3. Ông Phạm Văn H1 và bà Huỳnh Như Bảo N
Địa chỉ: A đường số A, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
4. Người kháng cáo: Do có kháng cáo của bị đơn ông Phan Ngọc T3 và bà Phạm Phương K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Như Bảo N trình bày:
Tại đơn khởi kiện ngày 14/8/2019, nguyên đơn bà Huỳnh Như Bảo N và ông Phạm Văn H1 khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, yêu cầu Tòa án buộc bà Phạm Phương K, ông Phan Ngọc T3 tháo gỡ công trình xây dựng, lắp đặt trái phép trên diện tích 2,6m², một phần thửa số 509, tờ bản đồ số 14, nhà A đường số A, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, do Ủy ban nhân dân quận B đã cấp cho mình.
Nguồn gốc thửa đất nêu trên là do bà Huỳnh Như Bảo N và ông Phạm Văn H1 nhận chuyển nhượng từ Ông Lê Hồng T4, bà Bùi Thị Kim T5 theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA263010, số vào số cấp GCN số CH00102 do UBND quận G cấp ngày 09/02/2010. Trong quá trình đang giải quyết vụ án, Bà N và ông H1 bán căn nhà nói trên cho ông Nguyễn Anh T. Ngày 22/03/2021, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cập nhật thay đổi chủ sở hữu sang tên ông T là Nguyễn Anh T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ông T là chủ sử dụng đất đối với thửa đất số 509, tờ bản đồ số 14 tại địa chỉ số A đường số A, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 13/3/2023, Nguyên đơn bà Huỳnh Như Bảo N và ông Phạm Văn H1 có đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Do trong quá trình Tòa giải quyết vụ án bà Huỳnh Như Bảo N và ông Phạm Văn H1 bán căn nhà của mình cho ông Nguyễn Anh T, và vợ là Bà Hồ Thị Hoài T1 đứng tên.
Quá trình giải quyết vụ án có sự thay đổi địa vị tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T – Đại diện ông Lê Ngọc T2 nộp yêu cầu độc lập, đã đóng án phí yêu cầu độc lập, do ngày 22/3/2021. Phía ông Nguyễn Anh T và bà T1 là bên mua trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở,
quyền sử dụng đất ở của căn nhà nêu trên, đã đứng tên căn nhà nói trên, trong quá trình Tòa đang thụ lý giải quyết vụ án. Phía ông T trình bày: Sau khi ông T nhận chuyển nhượng thửa đất trên thì ông T được biết Toà án nhân dân đã thụ lý giải quyết vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất" giữa nguyên đơn là bà Huỳnh Như Bảo N và ông Phạm Văn H1 với bị đơn là bà Phạm Phương K và ông Phan Ngọc T3 liên quan đến thửa đất số 509, tờ bản đồ số 14 tại địa chỉ số A đường số A, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh mà ông T đã được cập nhật sang tên.
Ông Phan Ngọc T3, bà Phạm Phương K là chủ sở hữu của hai căn nhà số E và 55/27/11 Nguyễn Văn C, đâu đuôi nhà với đuôi nhà với nhà ông. Hai chủ nhà này đã lợi dụng con hẻm sau nhà đã có ghi chú trên giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu của mình, tự trổ cửa đi, lắp đặt cửa sổ, mái che bằng gạch ngói, thang leo, ống nước, lợp tôn, giặt, phơi quần áo, xây dựng tường gạch ngăn giữa nhà số 55/25/9 và 55/27/11 Nguyễn Văn C ngay trên phần đất phía sau căn nhà 1 đường số A, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích khoảng 1,5m² thuộc quyền sử dụng của ông T theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA263010, số vào số cấp GCN số CH00102 do UBND quận G cấp ngày 09/02/2010 (cập nhật thay đổi ngày 22/03/2021).
Ông T nhận thấy việc ông Phan Ngọc T3 và bà Phạm Phương K sử dụng đất mà ông T đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không chịu trả, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T.
Do đó, ông T đưa ra yêu cầu độc lập như sau: Buộc ông Phan Ngọc T3 và bà Phạm Phương K trả lại 2,6 m² đất thuộc một phần thửa đất số 509, tờ bản đồ số 14 toạ lạc tại địa chỉ số A đường số A, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Buộc ông Phan Ngọc T3 tháo dỡ vật xây dựng gây cản trở quyền sử dụng đất của mình có diện tích 1,5 m² và bà Phạm Phương K trả lại 1,1m2 đất thuộc một phần thửa đất số 509, tờ bản đồ số 14 tại địa chỉ số A đường số A, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa, ông T đưa ra yêu cầu đòi phía bà Phạm Phương K phải trả lại đất lấn chiếm này, theo diện tích tương ứng trên đất hẻm đã được công nhận là đất ở cho mình.
Bị đơn ông Phan Ngọc T3 trình bày:
Tháng 4 năm 2016, ông T3 có mua căn nhà tại địa chỉ Số E N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và sử dụng cho đến nay. Thời điểm mua và đưa vào sử dụng cho đến nay, thì hiện trạng phía sau nhà ông T3 có một hẻm xi măng với diện tích tương đương như sau: (dài 1,7m x rộng 0,51m) = 0,867m² và hiện trạng nhà ông T3 giữ nguyên sử dụng, ông T3 không hề xây dựng hoặc cải tạo thêm.
Căn cứ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được cấp cho ông T3 và cũng như các hộ dân bên cạnh gồm số nhà 55/27/9 và 55/27/13 Nguyễn Văn C, Phường C, Quận G và theo hiện trạng thực tế thì phía sau căn nhà 55/25/ 9 và 55/27/11 Nguyễn Văn C, có một
hẻm xi măng, đồng thời cũng là hệ thống cống thoát nước, thoát hiểm của các hộ dân chúng ông T3.
Theo văn bản trả lời số 311/QLĐT ngày 21/03/2013 của Phòng Quản Lý Đô Thị Quận G có xác nhận rằng hẻm hướng Đông Bắc của số nhà 55/27/13 và 55/27/11 Nguyễn Văn C, Phường C, Quận G vẫn được giữ nguyên theo hiện trạng 1,2m. Như vậy, phía sau căn nhà của các hộ dân vẫn còn tồn tại đường hẻm này do nhà nước quản lý.
Đến tháng 4 năm 2019, Ông Phạm Văn H1 và Bà Huỳnh Như Bảo N mua nhà và trở thành chủ sở hữu căn nhà số A đường số A, Phường C, Quận G có mua căn nhà kế bên là số A Đường số A, Phường C, Quận G. Căn nhà này nguyên trước đây xây dựng là không có cửa hậu. Tuy nhiên, sau khi ông H1 và Bà N mua lại căn nhà này thì đã đập tường để mở của hậu và phản ánh rằng phần diện tích hẻm phía sau căn nhà là của mình, đồng thời cũng là phía sau căn nhà số E và số 55/27/9 là thuộc quyền sử dụng của mình và đã được Ủy ban Quận công nhận là diện tích đất ở cho nhà của mình. Do vậy, Ông H1 và Bà N gửi đơn kiện để chiếm lấy phần diện tích đường hẻm này. Ngày 19/08/2019, các hộ dân tại địa chỉ: 55/27/13, 55/27/11 và 5 N, Phường C, Quận G đã gởi đơn kiến nghị đến Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Quận G để giải quyết và trả lời các vấn đề liên quan đến đường hẻm trên cho các hộ dân được biết.
Đối với phần diện tích hẻm phía sau căn nhà số E và 55/27/11 Nguyễn Văn C, Phường C, Quận G (tức phía sau căn nhà A đường số A, Phường C, Quận G), Ông Hải V Bà N đã xây dựng sai phạm lấn chiếm một phần hai trên diện tích hẻm này, tức chiếm 0.6 m², phần diện tích còn lại của đường hẻm này cũng được ông H1 và Bà N chiếm sử dụng. Việc sai phạm này đã được ghi nhận trong văn bản số 1310/TTr-XD ngày 08/11/2012 của Thanh Tra Xây dựng Quận G.
Tháng 4 năm 2019, Ông H1 và Bà N mua thêm căn nhà bên cạnh số A đường số A, Phường C, Quận G, và phản ánh phần diện tích hẻm phía sau nhà này (cũng là phần diện tích hẻm phía sau căn nhà số E và 55/27/9 Nguyễn Văn C, Phường C, Quận G) cũng thuộc quyền sử dụng của mình, với ý định chiếm quyền sử dụng toàn bộ phần diện tích đường hẻm phía sau căn nhà số 55/27/13, 55/27/11, 5 N, Phường C, Quận G.
Như vậy, Ủy ban Quận G đã một mặt công nhận quyền sử dụng phần diện tích hẻm này cho chủ sở hữu căn nhà số A đường N, khi cấp chủ quyền cho phía chủ đất cũ là ông Lê Hồng T4, bà Bùi Thị Kim T5, bán lại cho bà N và ông H1, giấy cấp vào năm 2012, là bỏ hẻm, công nhận quyền sở hữu cho phía bà T5 ông T4, cũng như hộ 15/4 Nguyễn Văn C của Ông Triệu Quốc D là không đúng. Vì trên giấy chủ quyền của các hộ 55/27/13, 55/27/11, 55/27/9 đường N,đều ghi là có đất hẻm, cũng đồng thời là hệ thống cống thoát nước, thoát hiểm. Như vậy, Việc công nhận phần diện tích đường hẻm này cho hộ dân nhà số A đường số A, Phường C, Quận G là sai trái với quy định về sơ đồ quy hoạch và qui định về quản lý lộ giới hẻm.
Đồng thời, nếu phần diện tích hẻm này có công nhận thuộc quyền sử dụng của chủ sở hữu căn nhà số A đường số A, Phường C, Quận G. Vậy thì đường hẻm phía sau của căn nhà số E và 55/27/9 được ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được cấp cho
ông T3 là hẻm thì nay đề nghị giữ nguyên là hẻm. Ông T3 kiến nghị Tòa án kiểm tra lại thông tin quy hoạch đường hẻm này.
Tại tòa, phía ông T3 cho rằng Văn bản của Phòng Quản lý đô thị vào 21/03/2013, trả lời rằng nhà nước vẫn còn quản lý lộ giới hẻm này, cho nên việc Ủy ban công nhận diện tích hẻm này thuộc quyền sử dụng của chủ sở hữu căn nhà số A đường số A, Phường C, Quận G đã làm sai biệt các giấy chứng nhận của nhà ông và bà K, mất đi diện tích hẻm trên thực tế. Việc công nhận này hoàn toàn mâu thuẫn với các giấy tờ pháp lý hiện hành.
Theo hiện trạng thực tế thì căn nhà 1 A đường số A, Phường C, Quận G đã xây dựng lần chiếm phần diện tích hẻm sau là [(4.40m + 4,36 m)/2 x 0,6m)x5], như vậy đối với căn nhà đối lưng là căn nhà số A đường số A, Phường C, Quận G, căn cứ nào phần diện tích hẻm này lại thuộc chủ sở hữu của căn nhà này.
Vào thời điểm năm 2010, chủ sở hữu trước đây của căn nhà số E N, Phường C, Quận G đã khiếu nại lên Ủy Ban Nhân Dân Phường C2 và Quận G về việc chủ sở hữu nhà số A đường số A, Phường C, Quận G, xây lấn chiếm diện tích đường hẻm. Bà N đã có biên bản cam kết tại Phường là giữ nguyên hiện trạng đường hẻm này, là hệ thống cống thoát nước, thoát hiểm.
Căn cứ theo các văn bản pháp lý hiện hành thì phần diện tích theo đơn khởi kiện của ông H1 và bà N và đơn yêu cầu độc lập của ông T là phần diện tích đường hẻm nhà nước đang quản lý, là hệ thống cống thoát nước, thoát hiểm của các hộ dân không thuộc quyền sử dụng của Ông H1 và Bà N (nay là nhà ông T).
Yêu cầu phản tố của bị đơn là Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 00102 cấp ngày 09/02/2010 của Ủy ban nhân dân quận G, để lại con hẻm như hiện trạng ban đầu.
Bị đơn bà Phạm Phương K – Đại diện bà Huỳnh Thị H trình bày:
Năm 2015, bà K có mua căn nhà 5 N, Phường C, quận G. Lúc nhà mới mua thì nhà có cửa sau, sử dụng đến năm 2019. Sau đó thì bên nhà bà N đã đập cửa phía sau nhà giành phần đất này. Sau đó nhà bà K đã xây bức tường bên phần đất nhà bà K và có lắp 1 cái cửa sổ lùa. Cửa sổ lùa không ảnh hưởng đến phần đất bên nhà bà N (nay là nhà ông T).
Phần diện tích theo đơn khởi kiện của ông H1 và bà N và đơn yêu cầu độc lập của ông T là phần diện tích đường hẻm nhà nước đang quản lý, là hệ thống cống thoát nước, thoát hiểm của các hộ dân không thuộc quyền sử dụng của Ông H1 và Bà N (nay là nhà ông T).
Đồng ý yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 00102 cấp ngày 09/02/2010 của Ủy ban nhân dân quận G, để lại con hẻm như hiện trạng ban đầu.
Đề nghị ông T giữ nguyên hiện trạng sử dụng hiện tại, không được phép xây bít lại phần hẻm phía sau nhà.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 1477/2023/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 3 Điều 35, Điều 37, điểm b khoản 2 Điều 227, điểm a, b khoản 1 Điều 238, Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 217, Điều 244, Điều 245, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng Điều 690 Bộ luật Dân sự năm 1995, Khoản 2 Điều 170 BLDS năm 2005, Điều 161, Điều 271 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Áp dụng Khoản 5 Điều 166 Luật Đất đai năm 2013.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Đình chỉ yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Như Bảo N và ông Phạm Văn H1 đối với ông Phan Ngọc T3 và bà Phạm Phương K.
Thay đổi tư cách tố tụng của đương sự: Ông Nguyễn Anh T là nguyên đơn trong vụ án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Anh T.
Xác định phần đất hẻm có diện tích 1.2 m² nằm trên giấy chủ quyền của nhà 55/25/9 và căn nhà số E N, Phường A, quận G là thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Anh T và bà Hồ Thị Hoài T1.
Không chấp nhận yêu cầu của ông Phan Ngọc T3 về việc yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00102 cấp ngày 09/02/2010 của UBND quận G cấp cho ông Nguyễn Anh T và bà Hồ Thị Hoài T1.
Buộc ông Phan Ngọc T3, và bà Trần Thị Bích L trả lại 0,72 m² đất (ghi nhận trên giấy là đất hẻm) thuộc một phần thửa đất số 509, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại địa chỉ số A đường số A, Phường C, quận G. Buộc ông T3 tháo dỡ toàn bộ công trình và tài sản trên đất (khung sắt) trả lại phần diện tích nói trên cho ông T, bà T1. Bà Phạm Phương K không được xây dựng trên diện tích đất đó.
Ủy ban nhân dân quận G nhanh chóng cập nhật việc bỏ quy hoạch hẻm này trên bản đồ địa chính và cập nhật lên Giấy chứng nhận sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở của các chủ nhà căn số 55/25/9 và 55/27/11 đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, khi có việc xin cấp đổi sổ (nếu có), theo đúng quy hoạch và hiện trạng bản đồ.
Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận G, và các cơ quan có thẩm quyền, trong cấp phép xây dựng, Buộc ông Nguyễn Anh T và bà Hồ Thị Hoài T1 phải tuân thủ đúng quy định của giấy phép xây dựng của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với diện tích đất được công nhận nói trên.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí dân sự sơ thẩm, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 31/8/2023, bị đơn ông Phan Ngọc T3 và bà Phạm Phương K có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Yêu cầu cấp phúc thẩm:
- Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà số CH00102 ngày 09/10/2012 tại địa chỉ số nhà A đường số A, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề nghị xem xét căn nhà A đường số A, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh do ông H1 và bà N xây dựng sai phép.
* Tại phiên tòa Người kháng cáo là ông T3, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không nộp tài liệu chứng cứ gì khác.
* Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng tại phiên tòa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo: Các căn nhà 55/25/9 và 55/27/11 đường N đối lưng với nhà 15/2 mà ông T đang là chủ sở hữu, có 1 đoạn hẻm nội bộ năm sau lưng các nhà này; 03 căn nhà gồm: nhà số 55/27/13 Nguyễn Văn C do bà Triệu Thị T6 đứng tên sở hữu, căn nhà số E do bà Võ Thị K2 đứng tên sở hữu. Bà K2 bán nhà cho ông T3; bà T6 bán nhà cho bà K và trên giấy chủ quyền vào thời điểm bán đều thể hiện phía sau nhà có ghi chú đất hẻm. Việc ghi chú này không có giá trị công nhận quyền sử dụng đất. Có căn cứ xác định phần đất hẻm tranh chấp là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông T đã mua và cập nhật biến động ngày 22/3/2021 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T3 về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 0012 cấp ngày 09/02/2010 của UBND quận G cấp có phần đất hẻm 1,2m² cho các bà T5, ông T4, bà N, ông H1 và sau này là ông T, đã cập nhật trên giấy chứng nhận tên ông T, bà T1.
Về yêu cầu xem xét ông H1, bà N xây dựng sai phép nhà A là không có cơ sở.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Ngọc T3, bà Phạm Phương K. Giữ nguyên bản án số 1477/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Phan Ngọc T3, bà Phạm Phương K do bà Huỳnh Thị H là đại diện theo ủy quyền, nộp trong thời hạn luật
định và đã nộp tạm ứng án phí nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
1. Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Anh T về việc đề nghị công nhận “khoảng đất hẻm” phía sau nhà ông T tiếp giáp nhà ông T3, bà K, do ông T đã nhận chuyển nhượng của bà N, ông T4 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 0012 cấp ngày 09/02/2010 của UBND quận G cấp.
[1.1] Xét thấy, theo Công văn số 1757/UBND-TNMT ngày 27/4/2023 của UBND quận G về việc phúc đáp Công văn số 6688/TATP-TLĐ ngày 07/12/2022 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung “Phần diện tích thuộc hẻm phía sau nhà số A đường số A, Phường C, quận G (thuộc một phần thửa đất số 509, tờ bản đồ số 14) có nguồn gốc do ông Triệu Văn T7 (chết năm 1994) và bà Nguyễn Thị M (chết năm 1996) tự xây dựng năm 1975 trên phần đất của cha mẹ để lại không có giấy tờ. Sau khi ông T7, bà M chết, ông Triệu Hoàng P (đại diện thừa kế) lập thủ tục cấp Giấy chứng nhận và được UBND quận G cấp Giấy chứng nhận số 8422/2003 ngày 28/7/2003 với diện tích đất 84,35 m², diện tích xây dựng 38,21 m², diện tích sàn xây dựng 84,01 m² (bao gồm cả phần hẻm phía sau theo tài liệu Bản đồ địa chính chính quy năm 2001). Theo Bản đồ địa chính chính quy tờ số 14, Phường C, quận G thì phần sân sau của căn nhà số A đường số A, Phường C (là một phần của căn nhà số A N, Phường C đã được cấp Giấy chứng nhận năm 2003) thể hiện hẻm 1,2m. Phần đất này (hẻm 1,2 m) được cấp Giấy chứng nhận năm 2003 nhưng chưa được cập nhật vào tài liệu bản đồ địa chính. Do đó, khi đơn vị đo vẽ và cấp Giấy chứng nhận cho hai căn nhà của bà Triệu Thị T6 (55/27/13 Nguyễn Văn C, Phường C thuộc Giấy chứng nhận số CH01763 ngày 04/02/2013) và bà Võ Thị K2 (55/27/11 Nguyễn Văn C, Phường C thuộc Giấy chứng nhận số CH02574 ngày 04/02/2013) thì vẫn thể hiện phía sau nhà tiếp giáp hẻm là chưa phù hợp với hiện trạng thực tế.
Nội dung này phù hợp với công văn số 1906/QLĐT ngày 27/11/2013 của Phòng Quản lý đô thị đã kết luận: “Theo Bản đồ địa chính Phường C, quận G thì 3 nhà đất nêu trên thuộc các thửa đất tương ứng là 55 và một phần đường hẻm, 56 và 57 tờ bản đồ số 14; đồng thời phía sau của 3 thửa đất này tiếp giáp hẻm (theo ghi nhận tại Bản đồ địa chính). Căn cứ đề án Điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng lộ giới đường hẻm (<12m) tỉ lệ 1/500 Phường C, quận G được Chủ tịch UBND quận G phê duyệt tại Quyết định số 5773/QĐ-UBND ngày 05/10/2012, phía sau của 03 căn nhà đất nêu trên không có quy hoạch hẻm giới.
Do đó, cấp sơ thẩm đã nhận định đề nghị chính quyền địa phương cập nhật thực hiện hiệu chỉnh bản đồ theo hiện trạng sử dụng và theo quy định để làm cơ sở quản lý ranh nhà đất ranh và hẻm cho phù hợp với việc Ủy ban nhân quận G đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân tiếp giáp khu vực này là có cơ sở.
[1.2] Mặt khác, theo bản đồ điều chỉnh quy hoạch chi tiết lộ giới hẻm và hệ thống thoát nước ngày 04 tháng 10 năm 2012, do Phòng Quản lý Đô Thị quận G
cung cấp cho Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thể hiện phần đất tranh chấp là hẻm ghi nhận là 1,2 m² chiều ngang, đã cho thấy phần đất tranh chấp không còn chức năng cấp thoát nước nữa, mà đã có hệ thống cấp thoát nước riêng, tức đã bỏ thông hành địa dịch cũ đó. Do đó, có căn cứ xác định phần đất tranh chấp hiện nay không còn chức năng cấp thoát nước. Đất đó có nguồn gốc quyền sử dụng từ năm 1975 của gia đình hộ ông Triệu Văn T7 và đã được công nhận chủ quyền trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau này bà T5, và ông T4, cũng như bà Bảo N và ông H1, ông T được nhận chuyển nhượng theo các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất ở với các chủ cũ đều là hợp pháp, đúng theo quy định tại Điều 161 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời điểm xác lập quyền sở hữu, và quyền khác đối với tài sản,“ Khi bên được xác định là chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu cho người khác, thì người đó có các quyền sở hữu đối với đất đã được công nhận như là đối với chủ cũ”. Trong khi đó, bà T6 cũng như bà K2 được Ủy B nhân dân Quận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà là được cấp vào năm 2013 là cấp sau giấy chứng nhận của ông Triệu Hoàng P được cấp năm 2003. Việc ghi chú là đất hẻm không có giá trị công nhận quyền sử dụng đất cho bà K2 và bà T6.
Việc Ủy ban nhân dân quận G cấp giấy cho các nhà chủ sở hữu nhà 55/25/9 và 55/27/11 Nguyễn Văn C là đã có sự thiếu sót khi cấp giấy chưa cập nhật biến động lên bản đồ địa chính việc bỏ quy hoạch hẻm, nên đã ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhà ở cho phía các hộ phía sau nhà A đường số A, Phường C, quận G, cụ thể nhà bà K2 số 55/25/9 và bà Triệu Thị T6 số 55/27/11 Nguyễn Văn C, năm 2013, thể hiện: Nhà tiếp giáp đất hẻm.
[1.3] Theo bản vẽ sơ đồ hồ sơ tách thửa năm 2009 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai cung cấp cho Tòa án ngày 10/11/2022 thể hiện: thửa đất số 55 tờ bản đồ số 14, Phường C, quận G được tách làm 2 phần; phần 1 của ông Triệu Quốc D diện tích 42,56m²; phần 2 của ông Triệu Hoàng P diện tích 41,79. Ông Triệu Quốc D được UBND quận G cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất số BA 370856 ngày 25/12/2009 thì diện tích đất là 42,6m², cùng thửa số 59 tờ bản đồ số 14. Đến ngày 06/01/2010 Ông D chuyển nhượng cho ông Lê Hồng T4, bà Bùi Thị Kim T5 và được UBND quận G cấp giấy chứng nhận mới số BA263010 ngày 09/02/2010. Ngày 10/4/2019 ông T4 và bà N chuyển nhượng cho ông Phạm Văn H1 và bà Huỳnh Như Bảo N. Ngày 24/02/2021 ông H1 và bà N chuyển nhượng cho ông Nguyễn Anh T và bà Hồ Thị Hoài T1, được văn phòng đăng ký đất đai quận G xác nhận chuyển nhượng trong giấy chứng nhận ngày 22/3/2021. (BL 240-262). Do đó, ông T và bà T1 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ về nhà đất trên.
[1.4] Từ những nhận định trên, có căn cứ xác định phần diện tích “đất hẻm tranh chấp” là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông T. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông T3 trả lại phần đất, tháo dỡ các công trình và tài sản trên đất để trả cho ông T là có căn cứ.
[2] Về yêu cầu phản tố của bị đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà số CH00102 ngày 09/10/2012 (thực tế trong giấy chứng nhận là ngày 09/02/2010) đứng tên ông Lê Hồng T4 và bà Bùi Thị Kim T5 tại địa
chỉ số nhà A đường số A, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, đã chuyển nhượng cho ông Phạm Văn H1 và bà Huỳnh Như Bảo N ngày 10/4/2019, ngày 24/2/2021 ông T4 và bà N chuyển nhượng cho ông Nguyễn Anh T và bà Hồ Thị Hoài T1 là không có cở sở, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận và Hội đồng xét xử đã phân tích ở trên. Nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
[3] Về nội dung đề nghị xem xét ông H1, bà N xây dựng sai phép nhà số A đường số A, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đây là lĩnh vực quản lý trật tự xây dựng do cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương quản lý và xử lý vi phạm nếu có. Do đó, cấp phúc thẩm không xem xét về yêu cầu kháng cáo này.
Từ những nhận định trên, Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên quyết định án sơ thẩm.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[5] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn ông Phan Ngọc T3 và bà Phạm Phương K phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Các nội dung khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Phan Ngọc T3 và bà Phạm Phương K.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 1477/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Áp dụng Điều 690 Bộ luật Dân sự năm 1995, khoản 2 Điều 170 BLDS năm 2005, Điều 161, Điều 271 Bộ luật Dân sự năm 2015. Áp dụng khoản 5 Điều 166 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Anh T.
Xác định phần đất có ghi “hẻm 1,2 m²” phía sau nhà số 55/25/9 và nhà số E N, Phường A, quận G là thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Anh T và bà Hồ Thị Hoài T1, thuộc thửa đất số 509 tờ bản đồ số 14 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA263010 ngày 09/02/2010 của Ủy ban nhân dân quận G.
2. Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn ông Phan Ngọc T3, bà Phạm Phương K về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00102
cấp ngày 09/02/2010 của UBND quận G cấp và đã được cập nhật chủ sử dụng tại thời điểm xét xử là ông Nguyễn Anh T và bà Hồ Thị Hoài T1.
3. Buộc ông Phan Ngọc T3, và bà Trần Thị Bích L trả lại 0,72 m² đất phía sau nhà được ghi trong giấy chứng nhận chủ quyền là “đất hẻm” có chiều ngang 1,8m, dài 0,4 m theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh thuộc một phần thửa đất số 509, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại địa chỉ số A đường số A, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T3, bà L tháo dỡ toàn bộ công trình và tài sản trên đất trả lại phần diện tích đất nói trên cho ông T, bà T1.
4. Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận G cập nhật việc bỏ quy hoạch “đất hẻm” này trên bản đồ địa chính và cập nhật lên Giấy chứng nhận sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở của các chủ nhà căn số 55/25/9 và 55/27/11 đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, khi có việc xin cấp đổi sổ (nếu có), theo đúng quy hoạch và hiện trạng bản đồ.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Phan Ngọc T3 và bà Phạm Phương K mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà K, ông T3 đã nộp theo các biên lai thu số 0004185 ngày 07/11/2023; số 0002004 ngày 31/8/2023 tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các nội dung khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án là ngày 30/5/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh |
Bản án số 371/2024/DS-PT ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 371/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp kháng cáo của bị đơn
