Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 370/2023/HS-ST

Ngày 30 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Kiên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Tùng Mận

2. Ông Nguyễn Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Vi là Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Tinh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 373/2023/TLST-HS, ngày 14 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 378/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Văn P; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 01/01/1992; Tại: Tỉnh Bến Tre. Nơi thường trú: Ấp Q, xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre. Chỗ ở hiện nay: Không nơi ở nhất định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 0/12. Tiền án, tiền sự: Không. Con ông: Dương Văn T, sinh năm: 1967, trú tại: Ấp Q, xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre; Con bà: Phan Thị M (không rõ năm sinh, nơi ở). Bị cáo chưa có vợ con.

Bị cáo Dương Văn P đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, từ ngày 28/8/2023 cho đến nay.(Có mặt)

- Bị hại: Bà H' Bich Mlô (vắng mặt)

Địa chỉ: E L, phường E, TP B, tỉnh Đắk Lắk.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Lê Trung T1 (vắng mặt)

Địa chỉ: A N, phường T, TP B, tỉnh Đắk Lắk.

2/ Bà Phạm Thị T2 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Văn P, sinh năm: 1992, thường trú tại: Ấp Q, xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre, là người nghiện chất ma túy.

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 23/8/2023, Dương Văn P đi bộ trên các tuyến đường thuộc khu vực phường T, thành phố B, tìm người dân sơ hở trong việc quản lý tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, P đi đến khu vực phía trước dãy phòng trọ tại địa chỉ: C H, phường T, thành phố B, thì phát hiện trên đường luồng của dãy phòng trọ có dựng 01 xe mô tô biển số 47M1-096.99, hiệu SYM ATTILA ELIZABETH, màu đỏ, của chị H' Bich Mlô, trú tại: E L, phường E, thành phố B, không có người trông coi nên P đi đến, lén lút trộm cắp xe mô tô biển số 47M1-096.99, rồi dắt bộ đến công viên P, phường T, thành phố B, cất giấu. Đến khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, P dắt xe mô tô biển số 47M1-096.99 đến tiệm S, địa chỉ: A N, phường T, thành phố B, do anh Lê Trung T1 làm chủ để làm chìa khóa xe mô tô trộm cắp cho P. Do không biết đây là tài sản phạm tội mà có nên anh T1 đồng ý làm cho P 01 chìa khóa xe mô tô. Sau khi có chìa khóa xe mô tô, P điều khiển xe mô tô biển số 47M1-096.99 đi đến khu vực xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước thì bị Công an phát hiện xử lý.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 165/KL-HĐĐGTS ngày 13/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 xe mô tô biển số 47M1-096.99, nhãn hiệu Sym, số loại Attila, màu sơn đỏ, số khung: 12HDCD068608, số máy: VTBB-D068608, trị giá 3.900.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 368/CT-VKS BMT ngày 13/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, đã truy tố bị cáo Dương Văn P về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi bản chất của vụ án nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp Buôn Ma Thuột vẫn giữ nguyên bản cáo trạng số: 368/CT-VKS BMT ngày 13/11/2023 và đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Dương Văn P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Dương Văn P mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận cơ quan điều tra giao trả 01 xe mô tô biển số 47M1-096.99, nhãn hiệu Sym, số loại Attila, màu sơn đỏ, cho chị H' Bich Mlô nhận quản lý sử dụng, là phù hợp.

Tịch thu tiêu huỷ 01 chìa khóa xe mô tô là tài sản của bị cáo Dương Văn P sử dụng vào việc phạm tội.

Đối với 01 đĩa DVD bên trong có chứa đoạn video ghi lại sự việc phạm tội là vật chứng của vụ án nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án để phục vụ công tác xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Dương Văn P thừa nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng. Vào khoảng 05 giờ ngày 23/8/2023 tại dãy phòng trọ ở địa chỉ: C H, phường T, thành phố B, Dương Văn P đã trộm cắp tài sản của chị H' Bich Mlô 01 xe mô tô biển số 47M1-096.99, hiệu Sym Attila, màu đỏ, trị giá 3.900.000 đồng.

Do đó, có đủ cơ sở pháp lý kết luận hành vi của bị cáo Dương Văn P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được rằng tài sản của công dân là bất khả xâm phạm, mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đều bị pháp luật trừng trị, xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật với bản chất lười biếng lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài, Dương Văn P đã lén lút trộm cắp tài sản của chị H'Bich M1, giá trị tài sản 3.900.000 đồng do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do lỗi cố ý gây ra.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo không vi phạm tình tiết định khung tăng nặng do vậy xét xử tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Về tình tiết tăng nặng: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản trộm cắp có giá trị không lớn đã tịch thu trả lại cho người bị hại, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.Vì vậy, HĐXX xét thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt, về xử lý vật chứng là phù hợp do đó cần chấp nhận.

Với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận cơ quan điều tra giao trả 01 xe mô tô biển số 47M1-096.99, nhãn hiệu Sym, số loại Attila, màu sơn đỏ, cho chị H' Bich Mlô nhận quản lý sử dụng, là phù hợp.

Tịch thu tiêu huỷ 01 chìa khóa xe mô tô là tài sản của bị cáo Dương Văn P sử dụng vào việc phạm tội.

Đối với anh Lê Trung T1 là người làm chìa khóa xe mô tô biển số 47M1-096.99 cho bị cáo Dương Văn P. Quá trình điều tra xác định, anh T1 không biết xe mô tô biển số 47M1-096.99 là tài sản do bị cáo P phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Dương Văn P, ngày 19/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo, là phù hợp.

Đối với người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là người bán ma túy cho bị cáo Dương Văn P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa xác định nhân thân, lai lịch nên tách ra khỏi vụ án, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau, là phù hợp.

[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Dương Văn P 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 28/8/2023.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận cơ quan điều tra giao trả 01 xe mô tô biển số 47M1-096.99, nhãn hiệu Sym, số loại Attila, màu sơn đỏ, cho chị H' Bich Mlô nhận quản lý sử dụng.

Tịch thu tiêu huỷ 01 chìa khóa xe mô tô là tài sản của bị cáo Dương Văn P.

(Có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự TP. Buôn Ma Thuột ngày 29/11/2023).

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Dương Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND thành phố Buôn Ma Thuột;
  • - Công an thành phố Buôn Ma Thuột;
  • - Thi hành án phạt tù (để thi hành);
  • - Chi cục THADS thành phố Buôn Ma Thuột;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - Bị cáo, các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Viết Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 370/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 370/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger