Hệ thống pháp luật

TAND QUẬN N

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 370/2023/HSST

Ngày: 27/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn V

  • - Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Trần Quốc S – Nguyên giáo viên – Chủ tịch hội khuyến học quận N, Hà Hội.

  • 2. Bà Trần Thị O – Nguyên giáo viên, Hiệu trưởng trường THCS TM, phường T, quận N, Hà Hội.

  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Bích T

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc T – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27/12/2023, tại trụ sở TAND quận N, thành phố H, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 367/2023/TLST-HS ngày 23/11/2023 đối với bị cáo:

Dư Văn H, sinh năm 1976; Giới tính: Nam

Nơi ĐKNKTT: Xóm A, thôn H, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam

Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do

Con ông Dư Thọ T và bà Lê Thị C

Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị V, sinh năm 1976, có 03 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/8/2023 đến ngày 31/8/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay – Có mặt

Người bị hại: Triệu Mỹ D, sinh ngày 18/02/2009 – Vắng mặt

Người đại diện hợp pháp và giám hộ cho cháu D: Bà Đặng Thị V1, sinh năm 1969 (mẹ đẻ của cháu D) – Vắng mặt

Cùng ĐKNKTT: Số A, ngõ C Đ, phường M, quận N, Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu D: Bà Nguyễn Thị N – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H – Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo bị VKSND quận N, thành phố H truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 12 giờ 30 ngày 20/4/2023, cháu Triệu Mỹ D, sinh ngày 18/02/2009 (14 tuổi 02 tháng 02 ngày) đang ngồi ăn cơm dưới sàn ở phòng trọ tại địa chỉ số A ngõ C, Đ, M, N, Hà Nội thì Dư Văn H là bạn của chị Đặng Thị V1 (mẹ cháu D) đến chơi. Thấy cháu D ở nhà một mình nên đã nảy sinh ý định dâm ô đối với cháu. H hỏi cháu D: “Mẹ cháu có nhà không?”, cháu D trả lời: “Mẹ cháu không có nhà”. H sau đó gọi điện thoại cho chị V1 và mở loa ngoài hỏi: “Chị có nhà không, để em sang chơi”. Lúc này, chị V1 đang đi làm vắng nhà nên trả lời “Chị đi làm tối mới về” thì H tắt máy và không nói thêm gì. H sau đó để điện thoại lên giường rồi ngồi xuống đất sát cạnh phía bên trái của cháu D. Nhìn thấy cháu D đang dùng điện thoại di dộng bị vỡ màn hình, H hỏi cháu D “Có cần điện thoại mới không chú mua cho”, cháu D trả lời “Không”. H nói tiếp “Cháu có số tài khoản không chú chuyển khoản cho”, cháu D trả lời “Không”. H không nói gì thêm mà dùng tay phải xoa vào vùng lưng của cháu D liên lục. Cháu D lúc này theo phản xạ dùng tay trái của mình gạt tay của H ra. H tiếp tục dùng tay phải xoa dọc đùi trái của cháu D nhiều lần thì cháu D tiếp tục dùng tay trái đẩy mạnh vào vai phải của H làm H bị nghiêng người sang bên trái (gần chạm đất) đồng thời tay phải của H cũng rời khỏi vùng đùi trái của cháu D. Sau đó, cháu D đứng lên thì H cũng đứng lên theo hướng đối diện cháu D (đứng sát vai trái của cháu D) H dùng hai tay chùm qua hai tay cháu D và ôm chặt lấy cháu D từ trước ra sau và ghì sát toàn bộ phần thân người của H vào người cháu D rồi có hành động dùng cơ thể của H cọ xát lên xuống liên tục theo chiều thẳng đứng. Lúc này bộ phận sinh dục của H đã cương cứng cọ xát liên tục vào vùng đùi trái của cháu D nên cháu D hoảng sợ vùng thoát khỏi H và chạy ra đầu ngõ. Sau đó H đã rời khỏi nhà chị V1. Sau khi sự việc xảy ra, chị Đặng Thị V1 cùng cháu Triệu Mỹ D tới cơ quan Công an trình báo về vụ việc trên.

Sau khi xác minh tin báo của chị Đặng Thị V1 và cháu Triệu Mỹ D trình báo đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của Dư Văn H. Đến ngày 26/8/2023, Cơ quan điều tra đã bắt khẩn cấp đối với Dư Văn H.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của H: 01 điện thoại OPPO.

Đối với Triệu Mỹ D: Do không có thương tích gì nên cháu D đã có đơn từ chối giám định thương tích.

Về dân sự: Gia đình Dư Văn H đã xin lỗi và bồi thường cho cháu Triệu M Duyên số tiền 30.000.000đ. Cháu D và chị V1 không có yêu cầu gì về dân sự và có đơn xin rút đơn tố cáo, xin giảm nhẹ hình phạt cho Dư Văn H.

Tại cơ quan điều tra, Dư Văn H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của bị can phù hợp khách quan với biên bản dẫn giải, biên bản nhận dạng, lời khai của người người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 359/CT-VKSNTL ngày 20/11/2023 của VKSND quận N, thành phố H đã truy tố bị cáo về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 146 BLHS.

Kết thúc phần tranh tụng; Tại phần tranh luận, đại diện VKS đọc bản luận tội đối với bị cáo. Nội dung bản luận tội đã phân tích nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Áp dụng khoản 1 Điều 146 BLHS, điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS; Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù nhưng đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét; Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Oppo.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng số 359 ngày 20/11/2023 của VKSND quận N đã truy tố bị cáo. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố và lời luận tội của đại diện VKS đối với bị cáo tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện VKS. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại và đại diện hợp pháp xin xét xử vắng mặt, nhưng có lời khai trình bày: Giữa bị cáo và mẹ bị hại có quan hệ quen biết nhau. Sự việc xảy ra thật đáng tiếc, sau khi bị cáo có hành vi dâm ô với cháu D nhưng không có thiệt hại ảnh hưởng gì, hai gia đình đã gặp gỡ và giải quyết với nhau. Bị cáo đã bồi thường cho người bị hại 30.000.000đ. Người bị hại và đại diện gia đình người bị hại có đơn rút tố cáo, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không yêu cầu gì về dân sự.

Bà N trợ giúp viên pháp lý bảo vệ cho cháu D: Đồng tình với bản luận tội của đại diện VKS về tội danh, hình phạt cũng như loại hình phạt áp dung đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 146, điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo ở mức án phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo đã gây ra, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo sớm trở thành công dân sống biết tôn trọng pháp luật và sức khỏe danh dự nhân phẩm của người khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, HĐXX nhận định: Khoảng 12 giờ 30 ngày 20/4/2023, tại số A ngõ C, Đ, M, N, Hà Nội, Dư Văn H đã có hành vi dùng tay phải xoa vào lưng và xoa dọc đùi trái của cháu Triệu Mỹ D nhiều lần và ôm ghì phía trước cháu D để bộ phận sinh dục của H đang cương cứng cọ xát liên tục vào vùng đùi trái của cháu Triệu Mỹ D (khi cháu mới 14 tuổi 02 tháng 02 ngày).

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 146 BLHS.

Xét cáo trạng truy tố và lời luận tội của đại diện VKS là có căn cứ, đúng người đúng tộ, đúng pháp luật nên được chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được bảo vệ sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của trẻ em, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong mỹ tục của dân tộc.

Về nhân thân của bị cáo: Tính đến ngày phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội, bị cáo cùng với gia đình đã xin lỗi bị hại và bồi thường nhằm khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Người bị hại và đại diện hợp pháp cho người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Không cần bắt bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và đại diện hợp pháp cho người bị hại không yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Oppo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Dư Văn H phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.

Áp dụng khoản 1 Điều 146, điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 46, 47 BLHS; Điều 106, 136, 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Dư Văn H 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện M, Hà Nội nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại của BLHS.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét

Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, gắn sim (đã qua sử dụng).

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST

Bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại chưa thành niên có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, đại diện hợp pháp cho người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND thành phố H;
  • - VKSND, Công an, Thi hành án cùng cấp;
  • - Bị cáo, các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Văn V

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 370/2023/HSST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H về hình sự: dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 370/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dư Văn Hiền phạm tội "Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger