Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 370/2024/DS-PT

Ngày 19-7-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Tài.

Các thẩm phán:

Ông Lê Sỹ Trứ.

Ông Bùi Văn Tâm.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Lợi - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 và 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 132/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2024/DS-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 166/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1961; địa chỉ: tổ A, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Bị đơn: Ông Bùi Văn P, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1952; cùng địa chỉ: tổ A, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của ông P, bà H: Ông Lê Hữu T1, sinh năm 1983, địa chỉ: thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 23/02/2024); có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị Ngọc R, sinh năm 1963 và ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1961; cùng địa chỉ: khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: khu phố E, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2

- Người làm chứng:

  1. Bà Trần Thị N, sinh năm 1961; có mặt.
  2. Bà Lê Thị N1, sinh năm 1958; có mặt.
  3. Bà Bùi Thị Kim K, sinh năm 1982; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: tổ A, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương.

- Người kháng cáo: nguyên đơn ông Hoàng Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn ông Hoàng Văn T trình bày: Ông Hoàng Văn T là chủ quyền sử dụng đất (viết tắt QSDĐ) diện tích 4.077m² thuộc các thửa đất số 88, 89, 178, 179, 190, 940, 980 (thửa 980 nay là thửa 1051) tờ bản đồ số 05, tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) số S749299, số vào sổ 00878 QSDĐ/TU của Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) huyện T cấp cho hộ ông T ngày 25/04/2001 và phần đất tranh chấp giáp ranh với đất ông P gồm: 154,9m² thuộc thửa 942; 44m² thuộc một phần thửa 88; 123,8m² thuộc một phần thửa 89 và 467,1m² thuộc một phần thửa 79 đã được chỉnh giảm; 3,8m² thuộc một phần thửa 77 và 224,2m² thuộc một phần thửa 90 đã được chỉnh giảm; 3,3m² thuộc một phần thửa 79; 10,4m² thuộc một phần đường đất. Đất có nguồn gốc ông T nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn H1 năm 1995.

Khoảng năm 2009, ông T và ông Bùi Văn P trao đổi miệng với nhau là ông P sử dụng diện tích đất khoảng 187m² thuộc một phần thửa đất số 88, 89 của ông T; đổi lại ông P có trách nhiệm mở lối đi cho ông T phần đất có chiều ngang 02m, chiều dài tính từ đường đất đến thửa đất số 88 của ông T, đo thực tế chiều dài là 31,85m. Quá trình thực hiện việc trao đổi đất thì xảy ra tranh chấp, lý do là ông P đã nhận 187m² đất của ông T để sử dụng nhưng không thực hiện việc mở lối đi như đã thỏa thuận. Ngoài ra, còn có các phần đất gồm: 154,9m² thuộc thửa 942 và 224,2m² thuộc một phần thửa 90 cấp cho ông P; 467,1m² thuộc một phần thửa 79 và 3,8m² thuộc một phần thửa 77 đã được chỉnh giảm; 3,3m² thuộc một phần thửa 79 cấp cho bà R; 10,4m² thuộc một phần đường đất thuộc QSDĐ của ông T nhưng ông P đang quản lý, sử dụng.

Do đó, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

- Buộc ông P phải chặt bỏ 60 cây cao su trên phần đất lấn chiếm và trả cho ông T quyền sử dụng đất diện tích 1.031,5m², cụ thể gồm: 44m² thuộc thửa 88; 123,8m² thuộc thửa 89; 467,1m² thuộc thửa 79 và 3,8m² thuộc thửa 77 đã được chỉnh giảm; 224,2m² thuộc thửa 90 và 154,9m² thuộc thửa 942 đã cấp GCNQSDĐ cho ông P; 3,3m² thuộc thửa 79 cấp GCNQSDĐ cho bà R; 10,4m² thuộc một phần đường đất.

- Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi GCNQSDĐ số vào sổ H00432 ngày 17/9/2007 và số CH00135 ngày 27/01/2011 cấp cho ông P và bà H để cấp lại theo hướng không bao gồm phần đất tranh chấp; ông T được

3

quyền kê khai, đăng ký để được cấp GCNQSDĐ đối phần 1.031,5m² đất nêu trên.

- Bị đơn ông Bùi Văn P trình bày:

Các thửa đất liên quan đến đất ông Hoàng Văn T tranh chấp với ông Bùi Văn P có nguồn gốc ông nhận chuyển nhượng năm 2002 gồm:

Thửa 91, 92, 172, 174, 175, 191, 192, 942 tờ bản đồ số 5 tại xã T, huyện B tổng diện tích 2.492m² có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Ngọc Đ và bà Trần Thị N năm 2002, (ông Đ hiện đã chết). Thời điểm mua, ông Đ đã được cấp GCNQSDĐ số S759093 ngày 18/6/2001.

Thửa 90, 93, 173, 171, 176, 177, 941 tờ bản đồ số 5 tại xã T, huyện B tổng diện tích 2.352,1m² có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của ông Hoàng Đình T3 và bà Lê Thị N1 năm 2002 (ông T3 hiện đã chết). Ông T3 đã được cấp GCNQSDĐ số vào sổ 00888 QSDĐ/TU ngày 25/4/2001. Các thửa đất này ông mua nhưng để cho con gái là Bùi Thị Kim K đứng tên. Năm 2011, bà K làm hợp đồng sang tên các thửa đất 90, 93, 173, 171, 176, 177 cho ông P, thửa 941 bà K vẫn đứng tên.

Năm 2002, ông P mua đất trọn thửa theo sổ đỏ mà không đo đạc thực tế. Ông đã thanh toán đủ tiền, nhận đất, cắm trụ bê tông, hàng rào kẽm gai làm ranh có chứng kiến của chủ liền ranh là ông T và sử dụng đất từ năm 2002 đến nay. Năm 2007, vợ chồng ông và bà K được cấp GCNQSDĐ đối với toàn bộ đất trên mà không qua đo đạc thực tế. Quá trình sử dụng đất, khoảng năm 2007, do 02 phần đất đã mua nêu trên là 2 khu riêng biệt: khu tiếp giáp đường đất (nay là đường nhựa) và khu đất phía sau không tiếp nối nhau, không có lối đi nên ông P với ông T thỏa thuận hoán đổi đất. Ông P nhận QSDĐ phần nối 02 khu thửa đất 88 và 89 cấp cho ông T, ông T nhận phần đất chiều ngang khoảng 2m tính từ phần đất tiếp giáp đường đất kéo thẳng đến cuối ranh tiếp giáp đất ông T như hiện trạng hiện nay. Phần đất sau khi hoán đổi có ranh như hiện trạng. Việc hoán đổi đất chỉ nói miệng và giao nhận đất trên thực tế.

Thửa đất 941 ông P cho con gái là bà K. Bà K đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp GCNQSDĐ số DC 524954, số vào sổ CS03416 ngày 19/11/2021. Toàn bộ đất còn lại nêu trên, ông P và bà H đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số AK 460963, số vào sổ H 00431 ngày 17/9/2007 và GCNQSDĐ số AK 460964, số vào sổ H 00432 ngày 17/9/2007.

Sau khi hoán đổi đất, ông T nhận đất rồi bán lại cho vợ chồng người em là bà Hoàng Thị T4 và ông Huỳnh Văn M, nay là 1 phần của thửa đất 1073. Do đó, ông P không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày:

Nguyễn Thị H là vợ của ông P, bà H đồng ý với lời trình bày của ông P, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Ngọc Rông Nguyễn Văn T2 trình bày tại buổi hòa giải ngày 31/10/2023 như sau:

4

Năm 2005, vợ chồng bà Trần Thị Ngọc R và ông Nguyễn Văn T2 mua đất của ông Nguyễn Văn T5 các thửa đất giáp ranh đất của ông T và ông P. Thời điểm mua, chủ đất chỉ khu đất, vị trí đất theo sổ nhưng không cắm ranh. Ranh đất đều do chủ liền ranh là ông T, ông P cắm từ trước. Hiện đất đã có ranh sử dụng ổn định. Trong phần đất nguyên đơn tranh chấp có 3,3m² thuộc một phần thửa đất số 79 cấp GCNQSDĐ cho bà R nhưng ông bà không sử dụng và không tranh chấp, ông bà đồng ý giao phần đất này cho người đang quản lý, sử dụng. Về quá trình quản lý sử dụng đất, ông bà chỉ nhìn thấy ông P làm ranh phần tiếp giáp thửa đất 79, 940 và quản lý sử dụng đất (trồng điều, sau đó là trồng cao su) trước khi ông bà mua đất năm 2005, nhưng không rõ thời gian nào. Ông, bà không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Hồ sơ cấp GCNQSDĐ thể hiện:

Thửa đất số 79 được cấp GCNQSDĐ lần đầu cho hộ ông Trần Phi T6 năm 2000 diện tích 2.308m². Năm 2001, ông T6 chuyển nhượng QSDĐ cho bà R theo diện tích đất được nêu trong GCNQSDĐ, không có đo đạc thực tế. Bà R và ông T2 được cấp GCNQSDĐ số AD 760626 ngày 28/6/2006 diện tích thửa 79 là 2.308m². Năm 2022, bà R và ông T2 làm thủ tục cấp đổi GCNQSDĐ số ADG 987556, thửa đất số 79 có đo đạc thực tế, diện tích đất còn lại là 1.642,1m².

Thửa đất số 942, 192, 191, 175, 174, 172, 92 và 91 được cấp GCNQSDĐ lần đầu cho ông Nguyễn Ngọc Đ và bà Trần Thị N theo GCNQSDĐ số S759093 ngày 18/6/2001. Đất này ông Đ nhận chuyển nhượng năm 1995. Ngày 20/8/2007, ông Đ và bà N chuyển nhượng QSDĐ cho ông P và bà H. Các lần chuyển nhượng này đều không thể hiện có đo đạc thực tế.

Thửa đất số 90, 93, 173, 171, 176, 177 và 941 được cấp GCNQSDĐ lần đầu cho ông Hoàng Đình T3 và bà Lê Thị N1 theo GCNQSDĐ số vào sổ 00888 QSDĐ/TU ngày 25/4/2001. Người đứng tên mua là bà K con của ông P. Năm 2011, bà K sang tên thửa đất số 90, 93, 173, 171, 176, 177 cho ông P và bà H, bà K đứng tên thửa đất 941.

Công văn số 3123/UBND-NC ngày 08/9/2023 của UBND huyện B cung cấp thông tin như sau: Việc cấp GCNQSDĐ thửa đất 942, 90 và 79 là cấp theo diện kê khai đăng ký đại trà, cấp không qua đo đạc thực tế, không có chứng kiến của chủ liền ranh.

- Người làm chứng bà Trần Thị N khai tại Biên bản hòa giải ngày 06/9/2022 như sau:

Khu đất ông P quản lý sử dụng có nguồn gốc của bà N chuyển nhượng, bà N chuyển nhượng đất theo sổ có bề rộng mặt tiền là 17,5m dài 33m nhưng không đo thực tế, thời điểm bán đất chưa có ranh rào.

Kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ đất tranh chấp thể hiện: Theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 123-2023 ngày 15/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện B thể hiện đất ông T tranh chấp với ông P bao gồm: 154,9m² thuộc thửa 942 và 224,2m² thuộc thửa 90 cấp cho ông P; 44m² thuộc thửa 88, 123,8m² thuộc thửa 89 và 467,1m² thuộc thửa 79 đã

5

được chỉnh giảm; 3,8m² thuộc thửa 77 đã được chỉnh giảm; 3,3m² thuộc thửa 79 cấp cho bà R; 10,4m² thuộc một phần đường đất. Toàn bộ đất tranh chấp hiện do ông P quản lý, sử dụng.

- Người làm chứng bà Bùi Thị Kim K trình bày:

Năm 2002, ông P nhận chuyển nhượng các thửa đất 90, 93, 173, 171, 176, 177, 941 nhưng để cho bà đứng tên. Sau đó, ông P cho bà thửa đất 941, các thửa đất còn lại bà đã sang tên trả lại cho ông P. Năm 2009, khi ông T và bà Á ly hôn, giải quyết tranh chấp tài sản là QSDĐ có bao gồm phần đất ông T nhận hoán đổi thuộc các thửa đất 90, 176 và 177 theo GCNQSDĐ cấp cho bà nhưng bà đồng ý cho chia. Ngoài đất tranh chấp thuộc thửa số 88 và 89 được hoán đổi, các phần còn lại ông T tranh chấp đều thuộc đất ông P mua của ông T3, ông Đ và quản lý sử dụng từ năm 2002 đến nay, có ranh rào cụ thể. Do đó, bà K thấy yêu cầu khởi kiện của ông T là không có căn cứ nên không đồng ý.

- Người làm chứng bà Lê Thị N1 và bà Trần Thị N trình bày:

Trước đây ông T có mua dùm cho hai bà hai phần đất nhưng do đất xấu nên hai bà không sử dụng đất. Sau đó, vợ chồng các bà bán đất lại cho ông P, bán đất theo sổ mà không biết rõ đất thuộc thửa nào, đến đâu; đất khi bán cũng không có ranh rào. Bà N chỉ biết phần đất vợ chồng bà bán cho ông P có chiều ngang là 17,5m tiếp giáp đường đất nhưng ranh đất tính từ đâu thì bà N không rõ. Đối với việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông T thì bà N1 và bà N không có ý kiến.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

Ông T và người đại diện hợp pháp của ông T là ông T7 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và cho biết: Các phần đất ông T tranh chấp thuộc thửa đất số 942, 90, 79, thuộc QSDĐ của ông T từ trước đến nay nhưng cấp GCNQSDĐ cho bà R không đúng nên bà R đã điều chỉnh giảm, còn 3,8m² chưa chỉnh giảm; phần đất thuộc thửa đất số 942 và 90 cấp cho ông P là không đúng. Thửa đất số 88 và 89 cấp cho ông T năm 2001 và đã được ông chỉnh giảm 01 phần để thực hiện việc đổi đất nhưng do ông P không giao đất nên nay ông đề nghị lấy lại. Toàn bộ đất này ông T đang quản lý sử dụng, bao gồm thửa đất 1073 và 79, các thửa đất liền ranh đất ông P đang quản lý sử dụng có nguồn gốc ông nhận chuyển nhượng năm 1995. Thời điểm mua không đo đạc thực tế, người bán cũng chưa được cấp GCNQSDĐ. Khoảng năm 1997, ông T chuyển nhượng 1 phần đất cho bà N, ông Đ, ông T3 và bà N1. Sau đó, những người này bán lại cho ông P và bà R. Phần còn lại ông T kê khai, đăng ký và được cấp GCNQSDĐ theo bản đồ không ảnh. Khoảng năm 2005, ông T đi Đắk Lắk, đến năm 2009 ông trở về thì phát hiện ông P đã trồng cây cao su nên hai bên thỏa thuận hoán đổi đất, ông T đã giao đất nhưng ông P không giao. Do đó, ông đề nghị Tòa án buộc ông P trả lại các phần đất hoán đổi thuộc thửa đất 88, 89 và các phần đất thửa 77, 79, 90, 942 thuộc QSDĐ của ông nhưng cấp cho ông P. Ngay trên phần đất thuộc thửa 942 còn có tấm chắn xi măng do ông T xây. Ông T xây tấm chắn này để chắn nước mưa tràn vào đất.

6

Ông P khai, phần đất ông đang quản lý sử dụng bao gồm nhiều thửa và theo nhiều GCNQSDĐ, các thửa này cũng không theo thứ tự, vị trí cũng không đều, không thẳng ranh nên ông không rõ gọi là thửa nào. Tuy nhiên, toàn bộ phần đất này được ông mua và sử dụng từ năm 2002, phần đất được hoán đổi thuộc thửa 88 và 89 ông T giao cho ông sử dụng từ khoảng năm 2007, ông cũng đã giao đất dọc ranh thửa 1073 hiện tại cho ông T. Việc hoán đổi đất chỉ nói miệng và giao đất trên thực tế. Đất được giao có chiều ngang khoảng 2m không đều nhau. Sau khi hoán đổi, đất của ai người đó sử dụng và ranh thẳng hàng như thực tế hiện nay. Không thể có việc ông T giao đất và tự điều chỉnh theo ranh thực tế khi chưa nhận đất hoán đổi của ông. Năm 2009, ông T và bà Á giải quyết ly hôn, tranh chấp về tài sản. Đất ông T và bà Á tranh chấp đo đạc thực tế, có phần đất thuộc thửa 90, 176, 177 cấp cho bà K nhưng ông T và bà Á quản lý sử dụng, bà K đồng ý để vợ chồng ông T chia đất đã hoán đổi. Từ trước đến nay, ông P và bà H chưa cho đo thực tế đất ông bà quản lý, sử dụng nên chưa được cấp GCNQSDĐ đất nhận hoán đổi và cũng chưa biết rõ các thửa đất theo GCNQSDĐ được cấp có đúng thực tế sử dụng hay không. Tấm chắn bằng bê tông xây ngay trước thửa đất 942 giáp thửa đất 1073 là do ông T tự ý xây để chắn nước mưa nhưng không được sự đồng ý của ông. Do đó, ông P không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2024/DS-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định như sau:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn T đối với bị đơn ông Bùi Văn P và bà Nguyễn Thị H về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 1.031,5m² và di dời tài sản trên đất cụ thể gồm: 44m² thuộc thửa 88; 123,8m² thuộc thửa 89; 467,1m² thuộc thửa 79 và 3,8m² thuộc thửa 77 đã được chỉnh giảm; 224,2m² thuộc thửa 90 và 154,9m² thuộc thửa 942 đã cấp GCNQSDĐ cho ông Bùi Văn P; 3,3m² thuộc một phần thửa 79 cấp GCNQSDĐ cho bà Trần Thị Ngọc R; 10,4m² thuộc một phần đường đất thể hiện tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 123-2023 ngày 15/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B.

(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Ngoài ra, bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23 tháng 01 năm 2024, nguyên đơn ông Hoàng Văn T kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

7

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: kháng cáo của ông Hoàng Văn T trong hạn luật định, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Nguyên đơn ông Hoàng Văn T tranh chấp với bị đơn ông Bùi Văn P một phần diện tích của các thửa đất như sau: thửa 942 diện tích 154,9m², thửa 79 diện tích 467,1m² + 3,3m², thửa 88 diện tích 44m², thửa 89 diện tích 123,8m²; thửa 90 diện tích 224,2m² và thửa 77 diện tích 3,8m².

[3] Bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T và cho rằng diện tích đất 154,9m² thuộc thửa 942, diện tích 224,2m² thuộc thửa 90 đã cấp quyền sử dụng cho ông P; diện tích 467,1m² và 3,3m² thuộc thửa 79 của bà R và ông T2; riêng một phần các thửa đất 88 diện tích 44m² và thửa 89 diện tích 123m² là đất ông T đã hoán đổi cho ông P; phần đất của ông P đổi cho ông T là 02 mét ngang của thửa 942 kéo dài từ đường nhựa đến giáp thửa 88, phần đất hoán đổi nay thuộc một phần thửa 1073 (của bà T4) giáp ranh với thửa 942 của ông P.

[4] Xem xét về việc kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng đối với các thửa đất tranh chấp giữa nguyên đơn ông T và bị đơn ông P như sau:

[4.1] Đối với nguyên đơn ông Hoàng Văn T: năm 2000, ông T kê khai đăng ký 07 thửa đất là 88, 89, 178, 179, 190, 940, 980 (thửa 980 nay là thửa 1051) trong đó thửa 88 diện tích 222m², thửa 89 diện tích 235m² và thửa 980 (nay là thửa 1051) diện tích 1.597m² (thửa 980 có cạnh hướng Bắc giáp với thửa 942 (thửa 942 đất đứng tên ông P) là một đường thẳng (bút lục 12). Các thửa đất trên ông T nhận chuyển nhượng từ năm 1995. Ngày 25/4/2001, 07 thửa đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ ông T (bút lục 11, 12). Ngoài ra ông T có sử dụng thửa 942 nhưng đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc Đ vào năm 1995. Đối với các thửa đất 77, 79, 90 ông T không kê khai, đăng ký, không quản lý sử dụng nên pháp luật không công nhận cho ông T có quyền sử dụng các thửa đất này. Ông T tranh chấp một phần các thửa 77, 79, 90 là không có căn cứ chấp nhận.

[4.2] Việc sử dụng 88, 89, 178, 179, 190, 940, 980 (thửa 980 nay là thửa 1051) của ông T như sau: năm 2008, vợ chồng ông T, bà Nguyễn Thị Á1 khởi kiện ly hôn và chia tài sản chung, tại Bản án hôn nhân gia đình số 31/2009/HNGĐ-ST ngày 15/9/2009 của Toà án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh

8

Bình Dương đã giải quyết ly hôn và chia tài sản chung, tại Bản trích đo địa chính tỷ lệ 1/500 ngày 06/6/2011 của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện T để chia tài sản chung là quyền sử dụng đất theo yêu cầu của ông T, bà Á1 thể hiện 07 thửa đất đo đạc và biến động các thửa đất 88, 89, 178, 179, 190, 940, 980 như sau:

  • Thửa 980 đổi thành thửa 1051, thửa 1051 tách thêm 01 thửa là 1047, trong đó thửa 1051 diện tích còn lại 486m² có cạnh hướng Bắc giáp thửa 942 của ông P và thửa 1047 (thửa mới tách chia cho bà Á1 vợ ông T) diện tích 219m².
  • Thửa 88 diện tích còn lại 176m² (diện tích theo giấy chứng nhận là 222m², khi đo đạc chia tài sản chung chưa đo hết toàn bộ thửa đất).
  • Thửa 89 diện tích còn lại 94m² (diện tích theo giấy chứng nhận là 235m², khi đo đạc chia tài sản chung chưa đo hết toàn bộ thửa đất).
  • Thửa 178 tách 01 thửa là 1045 diện tích 238m² (diện tích thửa 178 còn lại 63m²)
  • Thửa 179 tách 01 thửa 1046 diện tích 122m² (diện tích thửa 179 còn lại 307m²)

[5] Ông T và bà Á1 chia tài sản chung như sau: Ông T được chia thửa 88 diện tích 176m² và thửa 89 diện tích 94m², thửa 178 diện tích 63m², thửa 179 diện tích 307m² và phần còn lại thửa 1051 diện tích 486m². Còn bà Á1 được chia các thửa đất còn lại.

[6] Căn cứ diện tích đo đạc nêu trên, ngày 04/5/2012 Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T thửa đất 1051 diện tích 486m², thửa 88 diện tích 176m², thửa 89 diện tích 94m² và thửa 178, 179 (bút lục 220-236).

[7] Ngày 14/11/2014, tại thửa 1051, ông Hoàng Văn T tách diện tích 173,3m² lập thửa mới 1073 tặng cho bà Hoàng Thị T4. Ngày 08/12/2014, bà T4 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1073 có cạnh hướng Bắc giáp thửa 942 của ông P.

[8] Do việc đo đạc các thửa đất 88 và 89 của ông T và bà Á1 khi chia tài sản chung chưa đúng với ranh giới với các thửa đất liền kề. Vì vậy phần đất còn lại hiện nay tranh chấp tại các thửa 88 diện tích 44m², thửa 89 diện tích 123,8m² vẫn là tài sản chung của ông T, bà Á1.

[9] Đối với ông Bùi Văn P được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là huyện B) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có thửa tranh chấp là 90 (bút lục 53) và thửa 942 (bút lục 54).

[10] Nguồn gốc thửa đất 90 là của bà Lê Thị N1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà N1 chuyển nhượng cho bà Bùi Thị Kim K vào ngày 30/5/2005 (bút lục 73); bà K được cấp giấy chứng nhận ngày 29/8/2005. Ngày 29/10/2010, bà K tặng cho vợ chồng ông P, bà Nguyễn Thị H thửa đất 90 này (bút lục 59).

9

[11] Nguồn gốc thửa đất 942 do ông Hoàng Văn T chuyển nhượng giấy tay cho ông Nguyễn Ngọc Đ năm 1995, ông Đ kê khai đăng ký (bút lục 182) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001; vào ngày 20/8/2007 vợ chồng ông Đ chuyển nhượng cho vợ chồng ông P thửa đất 942, vợ chồng ông P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/9/2007 (bút lục 181 đến 188). Thửa 942 có cạnh hướng Nam giáp thửa 1051 (thửa cũ 980) của ông T là đường thẳng.

[12] Tại hồ sơ chia tài sản chung của vợ chồng ông T, bà Á1 không có tài liệu nào chứng minh có phần đất 02m ngang của thửa 942 (đất ông P) tiết giảm nhập vào thửa 1051 của ông T, cũng như tại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T thửa 1051 không có tài liệu nào chứng minh có phần đất 02m ngang của thửa 942 (đất ông P) tiết giảm nhập vào thửa 1051 của ông T hay nhập vào thửa 1073 của bà T4. Do đó, việc ông P cho rằng đã hoán đổi 02 mét ngang đất tại thửa 942 giao cho ông T là không có căn cứ chấp nhận.

[13] Với tài liệu, chứng cứ và nhận định nêu trên có căn cứ xác định:

[13.1] Ông Hoàng Văn T quản lý sử dụng, kê khai đăng ký đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng thửa đất số 88, 89, 1051 (trong đó có diện tích đất tranh chấp thuộc một phần các thửa 88, 89). Diện tích 44m² thuộc thửa 88 và diện tích 123,8m² thuộc thửa 89 vẫn thuộc tài sản chung của ông T, bà Nguyễn Thị Ánh.

[13.2] Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Nguyễn Thị Á1 vào tham gia tố tụng là thiếu sót, tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm ngày 22/4/2024 bà Á1 trình bày: diện tích đất ông T tranh chấp với ông P trường hợp được Tòa án chấp nhận thì Tòa án công nhận cho ông T; bà Á1 không còn quyền lợi gì đối với các phần đất ông T khởi kiện ông P. Bà Á1 yêu cầu Tòa án không đưa vào tham gia tố tụng trong vụ án trên. Tòa án nhận thấy bà Á1 tự nguyện định đoạt quyền lợi của mình nên việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Á1 vào tham gia tố tụng không ảnh hưởng nhiều đến vụ án.

[14] Đối với thửa đất số 77, 79, 90 ông T không quản lý sử dụng, kê khai nên Nhà nước không công nhận quyền sử dụng cho ông T. Việc khởi kiện của ông T tranh chấp các phần đất tại thửa 77, 79, 90 là không có căn cứ.

[15] Ông Bùi Văn P, bà Nguyễn Thị H với ông Hoàng Văn T chưa thực hiện việc hoán đổi đất 02 mét ngang tại thửa 942 của ông P để nhận lại các phần đất tại thửa 88, 89 của ông T.

[16] Tài sản cây trồng trên đất có 01 bụi tầm vông, 01 gốc huỳnh đường do ông T trồng, các loại cây khác như 02 mít, 60 cây cao su do ông P trồng, cụ thể: tại thửa 942 có 01 bụi tầm vông 34 cây do ông T trồng giá 21.000 đồng/cây; các loại cây khác do ông P trồng. Ông T không yêu cầu ông P bồi thường giá trị cây tầm vông. Trên thửa đất 88, 89 có 28 cây cao su và 01 cây mít do ông Phước t, cây mít giá 1.173.700đồng/cây; cây cao su giá 440.600 đồng/cây. Ông T tự nguyện bồi thường giá trị cây cao su và mít trên phần đất tranh chấp thuộc thửa

10

88, 89 gồm có 28 cây cao su và 01 cây mít cho ông P là 13.510.500 đồng, Tòa án ghi nhận để giải quyết dứt điểm vụ án.

[17] Với tài liệu, chứng cứ và nhận định nêu trên có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của ông Hoàng Văn T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Buộc ông P trả lại cho ông T diện tích đất 44m² thuộc thửa 88, diện tích 123,8m² thuộc thửa 89, tờ bản đồ số 05, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Ông T được quyền nhập diện tích đất tranh chấp 44m² của thửa 88 và diện tích đất 123,8m² của thửa 89 vào các thửa đất tương ứng 88, 89 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 226084 (số vào sổ CH 00335) cấp ngày 04/5/2012 cho ông Hoàng Văn T. Ông T có nghĩa vụ bồi thường giá trị 28 cây cao su và 01 cây mít trên phần đất tranh chấp thuộc thửa 88, 89 cho ông P, bà H số tiền 13.510.500 đồng.

[18] Chi phí tố tụng: tại cấp sơ thẩm 9.853.234 đồng và cấp phúc thẩm 1.500.000 đồng nguyên đơn đã nộp, yêu cầu khởi kiện được chấp nhận một phần nên mỗi bên phải chịu ½ chi phí tố tụng. Bị đơn nộp trả lại cho nguyên đơn ½ chi phí.

[19] Án phí sơ thẩm: Nguyên đơn, bị đơn là người cao tuổi nên được miễn.

[20] Án phí phúc thẩm: người kháng cáo đã được miễn.

[21] Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là chưa phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 48, 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, 170 Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Hoàng Văn T.

2.1. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương như sau:

2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn T đối với ông Bùi Văn P và bà Nguyễn Thị H, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

- Buộc ông Bùi Văn P và bà Nguyễn Thị H trả lại cho ông Hoàng Văn T diện tích đất 44m² của thửa 88 và diện tích đất 123,8m² của thửa 89, tờ bản đồ số 5, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương (có bản vẽ kèm theo).

- Ông Hoàng Văn T được quyền nhập diện tích đất tranh chấp 44m² của thửa 88 và diện tích đất 123,8m² của thửa 89 vào các thửa đất tương ứng 88, 89 tờ bản đồ số 5, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử

11

dụng đất số BE 226084 (số vào sổ CH 00335) cấp ngày 04/5/2012 cho ông Hoàng Văn T.

- Ông Hoàng Văn T có nghĩa vụ thanh toán giá trị cây trồng trên diện tích đất tranh chấp 44m² của thửa 88 và diện tích đất 123,8m² của thửa 89 cho ông Bùi Văn P và bà Nguyễn Thị H số tiền là 13.510.500 đồng (mười ba triệu năm trăm mười nghìn năm trăm đồng).

Sau khi thanh toán xong giá trị cây trồng cho ông P, bà H thì ông T được quyền sở hữu toàn bộ cây trồng trên diện tích đất tranh chấp 44m² của thửa 88 và diện tích đất 123,8m² của thửa 89, tờ bản đồ số 5, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Kể từ ngày người được thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2.2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn T đối với ông Bùi Văn P và bà Nguyễn Thị H, về việc tranh chấp một phần các thửa đất 77, 79, 90, tờ bản đồ 05, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương.

2.3. Chi phí tố tụng: Ông Hoàng Văn T phải chịu 5.676.617 (năm triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn sáu trăm mười bảy) đồng đã nộp đủ; ông Bùi Văn P và bà Nguyễn Thị H phải nộp trả lại cho ông Hoàng Văn T số tiền 5.676.617 (năm triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn sáu trăm mười bảy) đồng.

2.4. Án phí sơ thẩm: Nguyên đơn, bị đơn là người cao tuổi nên được miễn.

3. Án phí phúc thẩm: người kháng cáo đã được miễn.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Tân Uyên;
  • - TAND huyện Bắc Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Tổ hành chính tư pháp;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Tài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 370/2024/DS-PT ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 370/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger