Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 370/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 15 - 8 - 2023

V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên sơ cấp

Trong ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: anh Dương Võ Thái A, sinh năm 1980.
  2. Địa chỉ: số B, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

  3. Bị đơn: chị Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1979.
  4. Nơi cư trú: số B, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

    (Anh A xin vắng mặt, chị N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình hòa giải, nguyên đơn anh Dương Võ Thái A trình bày:

Anh và chị N tìm hiểu được thời gian được hai bên gia đình đồng ý, tổ chức lễ cưới năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, TX T, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 194/2004 ngày 13 tháng 8 năm 2004.

Sau khi cưới vợ chồng sống chung với cha mẹ anh A, thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến năm 2011 phát sinh mâu thuẫn do N ham chơi cờ bạc, không lao động để lo cho gia đình, anh phải trả nợ nhiều lần cho chị N, anh có khuyên can nhiều lần không được, vợ chồng cải vã thường xuyên đến tháng 11/2021 N bỏ đi cho đến nay, vợ chồng chính thức ly thân, thời gian ly thân anh và chị N có liên lạc mục đích N xin tiền anh và con để tiêu xài chứ không hàn gắn tình cảm. Nay tình cảm không còn, không thể hàn gắn, nên yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc N.

Về con chung: có 04 con chung tên Dương Nguyễn Khánh U, sinh ngày 10/9/2000 đã trưởng thành tự lao động nuôi sống bản thân được, Dương Nguyên L, sinh ngày 25/12/2011, Dương Nguyên K, sinh ngày 25/6/2013 và Dương Nguyễn Khánh V, sinh ngày 17/11/2018, hiện 03 con chưa thành niên đang sống với anh, ly hôn anh yêu cầu được nuôi con 3 con chung chưa thành niên không yêu cầu chị N cấp dưỡng.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Chị Nguyễn Thị Ngọc N vắng mặt từ khi Toà án thụ lý vụ án nên không có ý kiến trình bày.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật, tuy nhiên chị N được tống đạt triệu tập để nghe xét xử đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt, anh A có đơn xin vắng mặt và có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, do đó đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xét xử vắng mặt anh A và chị N theo Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Hôn nhân của anh, chị tìm hiểu được thời gian, được cha mẹ chấp thuận tổ chức lễ cưới năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, TX T, tỉnh An Giang, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2011 phát sinh mâu thuẫn do chị N ham chơi, tham gia tệ nạn xã hội, vợ chồng thường xuyên cãi nhau đến năm 2021 chị N bỏ đi vợ chồng ly thân, sau ly thân anh A và chị N cũng có liên lạc nhưng không tạo điều kiện vợ chồng hàn gắn, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh A yêu cầu ly hôn với chị N là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của bà Võ Thanh M (mẹ ruột của anh A), đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

- Về con chung: có 04 con chung tên Dương Nguyễn Khánh U, sinh ngày 10/9/2000 đã trưởng thành tự lao động nuôi sống bản thân được, Dương Nguyên L, sinh ngày 25/12/2011, Dương Nguyên K, sinh ngày 25/6/2013 và Dương Nguyễn Khánh V, sinh ngày 17/11/2018, hiện 03 con chưa thành niên đang sống với anh, ly hôn anh yêu cầu được nuôi 3 con chung chưa thành niên không yêu cầu chị N cấp dưỡng. Xét thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, anh A yêu cầu được tiếp tục nuôi 03 con chung chưa thành niên cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu, nên đề nghị HĐXX chấp nhận.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết

Đồng thời buộc các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về người tham gia tố tụng: nguyên đơn anh Dương Võ Thái A yêu cầu được vắng mặt khi xét xử, anh có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình; bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc N đã được tống đạt các văn bản tố tụng cũng như triệu tập lần thứ 2 để nghe xét xử, nhưng anh vẫn vắng mặt, việc vắng mặt của anh, chị không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, nên HĐXX xét xử vắng mặt anh, chị theo Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các bên.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: hiện nay chị N cư trú tại: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, nên anh A khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: anh A xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con nên quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khỏan 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, hôn nhân của anh, chị được xác lập do hai người tự tìm hiểu được cha mẹ hai bên đồng ý, tổ chức lễ cưới năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, TX T, tỉnh An Giang, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến naăm 2011 phát sinh mâu thuẫn do chị N ham chơi, tham gia tệ nạn xã hội, anh A có khuyên can nhiều lần nhưng chị N cũng không thay đổi, vợ chồng thường xuyên cãi nhau đến năm 2021 chị N bỏ đi, từ đó vợ chồng ly thân, anh A và chị N cũng có liên lạc để tạo điều kiện vợ chồng hàn gắn, nhưng khi liên lạc chị N chỉ xin tiền anh A và con để tiêu xài, không đặt ra việc sửa chữa hàn gắn tình cảm, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh A yêu cầu ly hôn với chị N là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của bà Võ Thanh M (mẹ ruột của anh A), cũng phù hợp kết quả xác minh của chính quyền địa phương, để anh chị có cuộc sống riêng sau này, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh A theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

- Về con chung: có 04 con chung tên Dương Nguyễn Khánh U, sinh ngày 10/9/2000 đã trưởng thành tự lao động nuôi sống bản thân được, Dương Nguyên L, sinh ngày 25/12/2011, Dương Nguyên K, sinh ngày 25/6/2013 và Dương Nguyễn Khánh V, sinh ngày 17/11/2018, hiện 03 con chưa thành niên đang sống với anh, ly hôn anh yêu cầu được nuôi 3 con chung chưa thành niên không yêu cầu chị N cấp dưỡng. Xét thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, hiện 03 con chung chưa thành niên đang do anh A nuôi dưỡng, chăm sóc ổn định phù hợp với nguyện vọng của các cháu, nên HĐXX giao cháu L, K và cháu V cho anh A tiếp tục nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, chị N không phải cấp dưỡng cho các con.

Về quan hệ tài sản chung: Các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Ghi nhận anh A khai không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh A, chị N phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án khác.

[3] Về án phí: anh Dương Võ Thái A là người xin ly hôn, nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 56 và Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

- Căn cứ Điều 26, khoản 5 Điều 27, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Dương Võ Thái A đối với chị Nguyễn Thị Ngọc N.

- Về hôn nhân: anh Dương Võ Thái A được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc N.

- Về con chung: Tiếp tục giao 03 con chung chưa thành niên tên Dương Nguyên L, sinh ngày 25/12/2011, Dương Nguyên K, sinh ngày 25/6/2013 và Dương Nguyễn Khánh V, sinh ngày 17/11/2018 cho anh Dương Võ Thái A nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, chị Nguyễn Thị Ngọc N không phải cấp dưỡng cho các con.

- Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: không có.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: anh Dương Võ Thái A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006094 ngày 17/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, chị Nguyễn Thị Ngọc N không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sư, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Nguyễn Thị Mỹ T – Nguyễn Thị Kim C

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Bùi Văn C1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 370/2023/HNGĐ-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 370/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger