Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 370/2025/HNGĐ-ST

Ngày 11 tháng 12 năm 2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Ba

Ông Nguyễn Kim Thành

-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng: Bà Phạm Thị Thuỳ Dương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 224/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 144/2025/QÐST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ P, sinh ngày: 28/4/1994; Địa chỉ: Tổ dân phố số C, xã P, thành phố H. (Vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức T, sinh ngày 18/10/1993; Địa chỉ: Tổ A (phường K cũ) phường N, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ P trình bày:

Về hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ P và ông Nguyễn Đức T kết hôn vào ngày 29/01/2021 tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, thành phố H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 05 ngày 29/01/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại tổ dân phố C, thị trấn P, thành phố H, sau đó chuyển về E B, quận N, thành phố Đà Nẵng. Trong thời gian hôn nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do cả hai không có tiếng nói chung, mỗi lần bàn bạc với nhau về việc gì đều xảy ra cãi vã, không thể nhường nhịn nhau, cuộc sống hôn nhân rất bế tắc. Mâu thuẫn được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng ông bà đã sống ly thân 1 năm. Nay về tình cảm bà Lê Thị Mỹ P xác định không còn yêu thương ông Nguyễn Đức T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Đức T.

Về con chung: Bà Lê Thị Mỹ P xác định vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Phương A, sinh ngày 30/10/2020. Con chung hiện đang sống với bà Lê Thị Mỹ P. Ly hôn bà Lê Thị Mỹ P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Nguyễn Đức Trung cấp D.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Mỹ P xác định bà và ông Nguyễn Đức T không có tài sản chung và nợ chung.

Bà Lê Thị Mỹ P xin được xét xử vắng mặt.

- Bị đơn ông Nguyễn Đức T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên ông vẫn vắng mặt, không có ý kiến.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã tuân theo đúng pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử.

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Thư ký đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại khoản 5 Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa, người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đã không chấp hành các quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ P đối với ông Nguyễn Đức T.

Về hôn nhân: Cho bà Lê Thị Mỹ P được ly hôn với ông Nguyễn Đức T; Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phương A, sinh ngày 30/10/2020 cho bà Lê Thị Mỹ P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên, ông Nguyễn Đức T không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Mỹ P xác định không có tài sản chung và nợ chung, đối với ông Nguyễn Đức T vắng mặt không có ý kiến về tài sản và nợ chung nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Nguyễn Đức T cư trú tại phường N, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3]. Nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ P có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Đức T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Mỹ P và ông Nguyễn Đức T xác lập trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Bà Lê Thị Mỹ P xác định trong quá trình chung sống giữa vợ chồng ông bà có phát sinh mâu thuẫn, sống không hòa hợp, không có tiếng nói chung, không thể nhường nhịn nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Đối với ông Nguyễn Đức T vắng mặt, không có ý kiến.

Hội đồng xét xử thấy rằng giữa các bên đương sự có mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến việc các bên lựa chọn sống ly thân là có thật, việc bị đơn ông Nguyễn Đức T không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa cho thấy ông không còn muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, đời sống chung giữa hai người đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Mỹ P phù hợp với Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Lê Thị Mỹ P được ly hôn với ông Nguyễn Đức T.

[2.2]. Về con chung: Bà Lê Thị Mỹ P xác định vợ chồng ông bà có 01 con chung chưa thành niên hiện do bà Lê Thị Mỹ P chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn bà Lê Thị Mỹ P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ông Nguyễn Đức T vắng mặt không có ý kiến về con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy: Thực tế hiện nay con chung đang sống cùng với bà Lê Thị Mỹ P, bà Lê Thị Mỹ P đủ khả năng nuôi dưỡng chăm sóc con chung, đối với ông Nguyễn Đức T vắng mặt không có yêu cầu gì về việc nuôi con chung, do đó căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Mỹ P, tiếp tục giao con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên.

[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên đương sự đều không có ý kiến, yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Mỹ P xác định vợ chồng bà không có tài sản chung và nợ chung. Đối với ông Nguyễn Đức T vắng mặt không có ý kiến, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí tranh chấp hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng.

[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

[5]. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” của bà Lê Thị Mỹ P đối với ông Nguyễn Đức T.

  1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ P được ly hôn với ông Nguyễn Đức T (Giấy chứng nhận kết hôn số 05 do Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Ủy ban nhân dân xã P, thành phố H) cấp ngày 29/01/2021 không còn giá trị pháp lý).
  2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Phương A, sinh ngày 30/10/2020 cho bà Lê Thị Mỹ P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên. Ông Nguyễn Đức T không cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Mỹ P phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Lê Thị Mỹ P đã nộp theo biên lai thu số 0002888 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
  4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng;
  • - Phòng THADS khu vực 2;
  • - UBND phường An Hải, thành phố Đà Nẵng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 370/2025/HNGĐ-ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 370/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà P và ông T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger