TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 370/2024/HS-ST Ngày 13/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Đặng Song Hoàn
Ông Hà Văn Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Hạnh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu H - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 370/2024/HS-ST ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 409/2024/QĐST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Dương Đông T, sinh năm 2003 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi thường trú: tổ dân phố F, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nơi ở trước khi bị bắt: Số A N, Phường H, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Dương Anh T1, sinh năm 1983 và bà Chu Thị Hải H1, sinh năm 1981;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt ngày 17 tháng 5 năm 2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt).
Người làm chứng:
- Anh Đặng Văn N, sinh năm 1994; Địa chỉ: A V, Phường A, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có mặt).
- Chị Mai Thị Cẩm L, sinh năm 2003; Địa chỉ: 1 X, phường T, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 02 giờ 10 phút, ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại phòng số 01 nhà nghỉ A, địa chỉ số A đường N, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an P, thành phố V phát hiện bắt quả tang Dương Đông T đang có hành vi tổ chức cho Đặng Văn N (sinh năm 1994; nơi ở: Số A V, Phường A, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) và Mai Thị Cẩm L (sinh năm 2003; nơi ở: Số A X, Phường T, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) cùng T sử dụng trái phép chất ma túy (Ketamine) đồng thời thu giữ vật chứng của vụ án. Sau khi lập hồ sơ ban đầu, Công an P1, thành phố V đã chuyển đối tượng, hồ sơ vụ án cùng vật chứng và các tài sản đã thu giữ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V để điều tra theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 16 tháng 5 năm 2024, T cùng N và Huỳnh Thị Thu H2 (sinh năm 2001; trú tại: Số C Khu T, phường T, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) nhậu tại quán Ố địa chỉ số E N, phường T, thành phố V. Trong lúc nhậu, N nói T muốn đi nghe nhạc và N sẽ trả số tiền từ 4.000.000đ (bốn triệu đồng) đến 5.000.000đ (năm triệu đồng) trong việc nghe nhạc. Sau đó, T nhắn tin qua ứng dụng zalo cho Nguyễn Văn Đỗ T2 (sinh năm 1999; nơi thường trú và nơi ở: Số A đường C, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu - là quản lý nhà nghỉ “A” địa chỉ số A N, Phường H, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) hỏi xem có phòng bay không thì T2 trả lời chỉ có ở nhà nghỉ thôi, có gì qua nhà nghỉ bàn thêm thì T đồng ý. Khi thỏa thuận với T2, T không bàn bạc với N, bản thân N cũng không hỏi rõ Triều đến địa điểm nào để nghe nhạc. Sau đó, T bắt taxi cho N đến nhà nghỉ A còn T và H2 đi xe máy đến. Khoảng 00 giờ 05 phút, ngày 17/5/2024, T, N và H2 đến nhà nghỉ A địa chỉ số A N, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thấy T2 đang nhậu cùng một số người bạn của T2 thì T, N và H2 vào cùng tham gia cùng. Trong lúc nhậu, N nhắn tin cho T nói "Chuẩn bị đồ đi em" nghĩa là nói N mua thuốc lắc, mục đích để cho H2 sử dụng và quan hệ tình dục với N nhưng vì T đã thỏa thuận với T2 chuẩn bị phòng và ma túy để bay lắc nên T nghĩ không cần mua cho N nữa. Khi N đi vệ sinh thì T hỏi T2 về việc chuẩn bị phòng và ma túy để bay lắc thì T2 đồng ý, N ra thì H2 bỏ về. Do không thấy H2 nên N nói với T “còn hai thằng đực rựa thì chơi cái gì”. Nhật định về, không muốn ở lại nhậu nữa nhưng T nói N cứ ngồi lại, T sẽ gọi bạn gái khác đến cùng ngồi nhậu. Sau đó, T gọi qua “Messenger” rủ Mai Thị Cẩm L và mượn xe máy ở nhà nghỉ A đón L đến cùng tham gia nhậu với cả nhóm. Một lúc sau vì say quá nên N vào phòng số 1 ngủ trước. Khoảng 15 phút sau, T2 nói với T chưa có đĩa sứ nên T về nhà lấy cục xạc điện thoại và 01 chiếc đĩa sứ màu trắng mang vào phòng số 1 nhà nghỉ A, đặt chiếc đĩa sứ lên bàn rồi ra ngoài. Sau đó, T quay lại phòng thì thấy có sẵn ma tuý khay trên đĩa sứ, 01 thẻ căn cước, 01 ống hút cuộn tròn bằng tiền mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng), loa và đèn đã được lắp sẵn, T liền sử dụng ma tuý rồi đi ra ngoài tiếp tục nhậu. Lúc này, N vẫn đang nằm ngủ. Khoảng 10 phút sau, T rủ L vào sử dụng ma tuý, L đồng ý. Khi T và L vào phòng thấy N đang nằm ngủ nên T gọi N dậy lấy ma tuý đưa cho N sử dụng bằng cách hút, N dùng ống hút bằng miệng thì bị sặc nên vào nhà vệ sinh nôn ói rồi quay lại nằm ngủ, T và L tiếp tục sử dụng ma túy rồi nằm nghe nhạc. Đến khoảng 02 giờ 10 phút, ngày 17/5/2024 thì bị Công an P phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số 297/KL-KTHS-MT ngày 23/05/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận như sau:
- - 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong đánh (số thứ tự 01), có hình dấu của Công an P – Công an Thành phố V, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Đặng Hồng Q, Dương Đông T, Mai Thị Cẩm L, Đặng Văn N, Nguyễn Quốc C, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chất bột màu trắng (kí hiệu mẫu A1) có khối lượng 0,4841 gam, là ma túy, loại Ketamine. (Bút lục điều tra số 36).
- - 01 (một) túi giấy màu nâu được niêm phong đánh (số thứ tự 02), có hình dấu và chữ ký như phòng bì số 01, bên trong có 01 (một) đĩa sứ màu trắng và 01 (một) gói nylon hàn kín chất bột màu trắng (kí hiệu mẫu A2) có khối lượng 0,5249 gam, là ma túy, loại Ketamine. (Bút lục điều tra số 36).
Quá trình điều tra, Dương Đông T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên (Bút lục điều tra từ số 70 đến số H). Lời khai của T phù hợp với lời khai của người liên quan là Đặng Văn N (bút lục điều tra số 96 đến 100) và Mai Thị cẩm L (bút lục điều tra số từ 116 đến 118) phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục số 24,25) và phù hợp với tài liệu chứng cứ mà cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V thu thập được.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng.
Cơ quan chức năng thu giữ vật chứng gồm:
- - 01 (một) đĩa sứ màu trắng bên trên có chất bột màu trắng được Cơ quan Công an chiết xuất bỏ vào trong 01 (một) túi nilon dạng túi zip. Sau giám định có khối lượng 0,4841 gam, là ma túy, loại Ketamine.
- - 01 (một) túi nylon màu trắng dạng túi zip bên trong có chứa chất bột màu trắng. Sau giám định có khối lượng 0,5249 gam, là ma túy, loại Ketamine.
- - 01 (một) căn cước công dân số [...] tên Nguyễn Hồng Q1.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh ngọc; số Imei: 352987118928174, I: 352987119720383.
- - 01 (một) loa màu đen.
- - 03 (ba) đèn màu màu đen và 01 (một) đèn màu trắng.
- - 01 (một) đoạn ống hút màu đen.
- - 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 VNĐ cuộn thành ống hút;
- - 01 (một) tờ tiền nước ngoài không rõ mệnh giá.
Toàn bộ số vật chứng và tài sản trên hiện chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 349/CT-VKSTPVT ngày 24/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Dương Đông T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 7 năm 06 tháng đến 8 năm tù và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) đĩa sứ màu trắng bên trên có chất bột màu trắng được Cơ quan Công an chiết xuất bỏ vào trong 01 (một) túi nilon dạng túi zip. Sau giám định có khối lượng 0,4841 gam, là ma túy, loại Ketamine.
- - 01 (một) túi nylon màu trắng dạng túi zip bên trong có chứa chất bột màu trắng. Sau giám định có khối lượng 0,5249 gam, là ma túy, loại Ketamine.
- - 01 (một) loa màu đen.
- - 03 (ba) đèn màu màu đen và 01 (một) đèn màu trắng.
- - 01 (một) đoạn ống hút màu đen.
- - 01 (một) căn cước công dân số [...] tên Nguyễn Hồng Q1.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh ngọc; số Imei: 352987118928174, I: 352987119720383.
- - 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 VNĐ cuộn thành ống hút;
- - 01 (một) tờ tiền nước ngoài không rõ mệnh giá.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Vào lúc 02 giờ 10 phút, ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại phòng số 01 nhà nghỉ A, địa chỉ số A đường N, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Dương Đông T có hành vi tổ chức cho Đặng Văn N và Mai Thị Cẩm L cùng T sử dụng trái phép chất ma túy (ketamine).
Như vậy, hành vi bị cáo Dương Đông T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi, là người sử dụng ma túy nên biết việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không có khả năng thi hành án phạt bổ sung là hình phạt tiền. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) đĩa sứ màu trắng bên trên có chất bột màu trắng được Cơ quan Công an chiết xuất bỏ vào trong 01 (một) túi nilon dạng túi zip. Sau giám định có khối lượng 0,4841 gam, là ma túy, loại Ketamine và 01 (một) túi nylon màu trắng dạng túi zip bên trong có chứa chất bột màu trắng. Sau giám định có khối lượng 0,5249 gam, là ma túy, loại Ketamine. Đây là chất nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;
- - 01 (một) loa màu đen; 03 (ba) đèn màu màu đen và 01 (một) đèn màu trắng; 01 (một) đoạn ống hút màu đen; 01 (một) căn cước công dân số [...] tên Nguyễn Hồng Q1, bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh ngọc; số Imei: 352987118928174, Imei 2: 352987119720383; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 VNĐ cuộn thành ống hút; 01 (một) tờ tiền nước ngoài không rõ mệnh giá, bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[6] Đối với số lượng ma túy thu giữ: sau giám định khối lượng 1.009 gam Katamine đây là số ma túy thu giữ trên bàn nơi các đối tượng đang sử dụng ma túy. Triều khai nhận với khối lượng ma túy này các đối tượng sẽ sử dụng hết nếu không bị lực lượng Công an bắt quả tang. Xét lời khai này là phù hợp với thực tế khách quan nên không đủ căn cứ xem xét, xử lý T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đối với Đặng Văn N: N khai có nhờ T tìm chỗ nghe nhạc là đi vào các quán Bar B để nghe nhạc và trả tiền trong khoảng từ 4.000.000₫ (bốn triệu đồng) đến 5.000.000đ (năm triệu đồng) nhưng T lại tự hiểu là tìm chỗ để sử dụng ma túy. N không thừa nhận nhờ Triều tìm địa điểm để sử dụng ma túy mà chỉ nhờ N tìm quán Bar B để nghe nhạc, bản thân N không biết việc T tự liên hệ thuê địa điểm và mua ma túy sử dụng. Khi T thỏa thuận với T2 về việc sử dụng ma túy và địa điểm đã không bàn bạc gì với N. Còn việc N có nhờ T “chuẩn bị đồ” là nhờ T mua giúp thuốc lắc để cùng H2 sử dụng rồi có ý định quan hệ tình dục với H2, nhưng sau đó H2 bỏ về nên không thực hiện được. Trước đó, T đã nhờ T2 mua giúp ma túy khay, bản thân T cũng thừa nhận không mua thuốc lắc giúp cho N. Do đó hành vi của Đặng Văn N chưa đủ yếu tố cấu thành tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" với vai trò đồng phạm với Triều.
Đối với Nguyễn Văn Đỗ T2: Theo lời khai của T, T2 là người cung cấp địa điểm, mua ma túy chuẩn bị dụng cụ loa, đèn, ống hút cho T tại phòng số 01 nhà nghỉ A. Hiện nay T2 không có mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V ra Quyết định tách hành vi, tài liệu đối với T2, tiếp tục xác minh xử lý.
Đối với Mai Thị Cẩm L: L là người được T rủ đến để sử dụng trái phép chất (Ketamine), không liên quan đến hành vi phạm tội của T. Dó đó Công an Thành phố V ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) theo quy định tại Khoản 1, Điều 23 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP là đúng quy định của pháp luật.
Đối với Huỳnh Thị Thu H2, H2 không biết và không tham gia sử dụng ma túy cùng Triều nên không có căn cứ xử lý.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Dương Đông T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Đông T: 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) đĩa sứ màu trắng bên trên có chất bột màu trắng được Cơ quan Công an chiết xuất bỏ vào trong 01 (một) túi nilon dạng túi zip. Sau giám định có khối lượng 0,4841 gam, là ma túy, loại Ketamine và 01 (một) túi nylon màu trắng dạng túi zip bên trong có chứa chất bột màu trắng. Sau giám định có khối lượng 0,5249 gam, là ma túy, loại Ketamine (Chứa trong 02 gói niêm phong vụ số 297 ngày 24/5/2024 của Phòng K công an tỉnh B);
- 01 (một) loa màu đen.
- 03 (ba) đèn màu màu đen và 01 (một) đèn màu trắng.
- 01 (một) đoạn ống hút màu đen.
- 01 (một) căn cước công dân số [...] tên Nguyễn Hồng Q1.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh ngọc; số Imei: 352987118928174, I: 352987119720383.
- 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 VNĐ cuộn thành ống hút;
- 01 (một) tờ tiền nước ngoài không rõ mệnh giá.
Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 31/BB - CCTHADS ngày 30/10/2024 và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 30/10/2024.
- Tịch thu tiêu hủy:
- Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Dương Đông T phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Thu Nga |
Bản án số 370/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 370/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Đông T - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
