|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 8 - 2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Vũ Thị Xuyến.
- 2. Ông Thái Quang Định.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thắng -Thư kýTòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Hoàng Thị T, sinh năm 1990.
Nơi thường trú: thôn C, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: tổ C, khu C, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: bà Lãnh Thị Mai H – Luật sư Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q, địa chỉ: số D, phố Đ, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt
- Bị đơn: anh Phạm Trung K, sinh năm 1982.
Nơi thường trú: Thôn D, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Nơi làm việc: công ty TNHH Ô – Chi nhánh Q, số B, đường T, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 22 tháng 01 năm 2024, bản tự khai ngày 29 tháng 02 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị T và anh Phạm Trung K kết hôn ngày 06 tháng 9 năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống bình thường, nhưng nhiều năm gần đây, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng về quan điểm sống, anh K thường xuyên rượu chè, không quan tâm đến vợ con, không có trách nhiệm với gia đình, anh K không đưa tiền lương cho chị T để chị T chi tiêu, vun vén cho cuộc sống gia đình, từ nguyên nhân này mà cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, ngột ngạt, vợ chồng không hoà hợp, chị T đã góp ý nhiều lần, cố gắng hoà giải nhưng anh K không thay đổi khiến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, dù vợ chồng sống chung một nhà nhưng đã ly thân gần 02 năm, tình cảm vợ chồng không còn, không ai còn quan tâm đến ai khiến mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị T đề nghị Toà án giải quyết cho được ly hôn với anh Phạm Trung K để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: chị T và anh K có 02 con chung tên Phạm Hoàng Công A, sinh ngày 22/01/2014 và Phạm Hoàng Phương A1, sinh ngày 16/02/2015, nếu ly hôn chị T nhận nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung. Lý do chị T nhận nuôi hai con chung là từ nhỏ các con đều do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, dù sống chung một nhà nhưng anh K không quan tâm, chăm lo, không để ý đến việc học hành của các con, không chăm sóc các con khi ốm đau, công việc của chị T hiện nay làm kế toán, có thu nhập ổn định, có thời gian chăm sóc các con, hơn nữa các con đang còn nhỏ, đang ở độ tuổi dễ bị ảnh hưởng tâm lý, cần sự quan tâm, chăm sóc, yêu thương của người mẹ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ văn bản Thông báo về việc thụ lý vụ án, các giấy triệu tập anh K đến Toà án làm việc và Thông báo về phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, nhưng anh K đều vắng mặt không có lý do và đều không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Ngày 11/7/2024, Toà án nhân dân thành phố Uông Bí lấy ý kiến con chung của chị T và anh K, kết quả cháu Phạm Hoàng Công A và cháu Phạm Hoàng Phương A1 đều có ý kiến: nếu Toà án giải quyết bố mẹ các cháu ly hôn thì nguyện vọng của cháu Phạm Hoàng Công A và cháu Phạm Hoàng Phương A1 đều muốn ở với mẹ là chị Hoàng Thị T.
Tại biên bản xác minh ngày 25 tháng 7 năm 2024, bà Lê Thị B là chủ phòng trọ nơi chị Hoàng Thị T và anh Phạm Trung K đang thuê ở cung cấp thông tin chị T và anh K đang thuê nhà bà B tại tổ C, khu C, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh ở, về mâu thuẫn vợ chồng chị T và anh K, bà B không nắm được với lý do hai người không nói gì cho bà biết, hơn nữa nơi ở của bà cách xa phòng trọ nên bà không nắm được.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn chị Hoàng Thị T giữ nguyên lời trình bày và quan điểm giải quyết vụ án như đã nêu trên.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bà Lãnh Thị Mai Hương T1 ý kiến: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh K đã kéo dài, trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, quan hệ hôn nhân chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa mà không có trên thực tế nên việc yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cả hai con chung cho chị T trực tiếp nuôi. Về tài sản, nguyên đơn không yêu cầu nên không đề cập.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí phát biểu ý kiến:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định khi thụ lý vụ án về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, xác định mối quan hệ tranh chấp và tư cách của những người tham gia tố tụng. Các hoạt động xác minh thu thập chứng cứ, hòa giải, thời hạn giải quyết vụ án đảm bảo quy định.
Việc tống đạt văn bản cho đương sự, giao tài liệu, quyết định, hồ sơ cho Viện kiểm sát đảm bảo thời hạn.
Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân theo đúng và đầy đủ quy định về pháp luật tố tụng dân sự khi xét xử.
Nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Chị T và anh K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thị xã Q ngày 06/9/2013. Theo chị T trình bày, cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc, nhiều năm gần đây thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Anh K thường xuyên rượu chè không quan tâm đến vợ con, không có trách nhiệm với gia đình, cùng nhiều vấn đề khác dẫn đến tình cảm không còn. Anh chị đã cố gắng giải quyết mâu thuẫn nhưng không được và đã ly thân 02 năm nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị T xin ly hôn với anh K. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Phạm Hoàng Công A, sinh ngày 22/01/2014 và Phạm Hoàng Phương A1, sinh ngày 16/02/2015. Chị T có nguyện vọng được nuôi 02 con và không yêu cầu anh K cấp dưỡng. Về tài sản chung chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh K nhưng anh K không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có bất cứ quan điểm gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị T, điều đó thể hiện anh K không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng, thiếu trách nhiệm đối với gia đình, con cái. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
Đối với 02 con chung đều có nguyện vọng ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Chị T có công việc, thu nhập ổn định trung bình 15.000.000đ/tháng nên cơ bản đảm bảo điều kiện để nuôi con. Việc giao 02 con chung cho chị T nuôi dưỡng và anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa các đương sự, nguyên đơn chị Hoàng Thị T có hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay (tạm trú): tổ C, khu C, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh và bị đơn anh Phạm Trung K có hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, nơi làm việc hiện nay: công ty TNHH Ô – Chi nhánh Q, số B, đường T, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh và nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án thành phố Uông Bí là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị đơn anh Phạm Trung K vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung cần giải quyết của vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị T và anh Phạm Trung K có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị T và anh K là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, từ những nguyên nhân này là cuộc sống vợ luôn căng thẳng, không hạnh phúc, trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện các thủ tục giải quyết vụ án theo trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ cho anh K, anh K đã biết nội dung yêu cầu khởi kiện của chị T nhưng anh K không đến Toà án làm việc, cũng không thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, như vậy thấy anh K cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng chị T và anh K đã trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh K là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Các đương sự có 02 con chung là cháu Phạm Hoàng Công A và cháu Phạm Hoàng Phương A1, trong quá trình giải quyết vụ án, chị T nhận nuôi con cả hai con chung và không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung, đồng thời chị T giao nộp tài liệu chứng cứ chứng minh chị T đủ điều kiện nuôi con chung như xác nhận bảng lương nơi làm việc, nơi ở ổn định của mình, hơn nữa nguyện vọng của hai con chung đều muốn ở với chị T, còn anh K không thể hiện quan điểm đối với việc nuôi con chung khi ly hôn. Hội đồng xét xử thấy để đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần cho các con chung, nên giao cho chung Phạm Hoàng Công A và cháu Phạm Hoàng Phương A1 cho chị T trực tiếp nuôi là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của đương sự đối với con chung theo quy định của pháp luật.
[2.3] Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị T không đề nghị Toà án giải quyết, anh Phạm Trung K không thể hiện quan điểm về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Nguyên đơn chị Hoàng Thị T phải nộp theo quy định.
[3] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- - Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn của chị Hoàng Thị T
- Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Phạm Trung K.
- Về con chung: giao con chung Phạm Hoàng Công A, sinh ngày 22/01/2014 và Phạm Hoàng Phương A1, sinh ngày 16/02/2015 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi kể từ tháng 8 năm 2024 cho đến khi cả hai con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Phạm Trung K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm (chị T được trừ án phí bằng tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ theo biên lai thu số 0002597 ngày 30 tháng 01 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh). Chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn chị Hoàng Thị T, báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Phạm Trung K vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hải |
Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án T- K, ly hôn tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
