Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC, TP. HÀ NỘI

Bản án số:37/2024/HS-ST

Ngày 30/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Bộ và ông Nguyễn Đại Đồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Hoà - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Phòng xét xử trực tuyến số 3 – Toà án nhân dân thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/HSST ngày 25 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:39/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: NGUYỄN THỊ H, sinh năm 1981; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn Ả, xã H, huyện M, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 03/12; Con ông Nguyễn Quý H1 và bà Nguyễn Thị C; chồng Nguyễn Văn C1, sinh năm 1973 (chết), con có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không; danh chỉ bản số 50 lập ngày 05/2/2024 tại Công an huyện M.

Nhân thân: Ngày 16/7/2009, TAND huyện Mỹ Đức tuyên phạt 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong án phí và được ra trại ngày 30/8/2010. Đã được xoá án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H từ ngày 31/01/2024 đến nay, Có mặt tại đầu cầu thành phần Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H.

2. Họ và tên: PHẠM VĂN VĨ, sinh năm 1979; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn Ả, xã H, huyện M, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; Con ông Phạm Việt N và bà Phạm Thị L; vợ Vũ Thị L1, sinh năm 1982, con có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; danh chỉ bản số 51 lập ngày 06/2/2024 tại Công an huyện M.

Nhân thân:

+ Ngày 30/1/2019, Công an huyện M, TP Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua số lô, số đề. Phạt số tiền là: 350.000đ. Đã chấp hành xong.

+ Ngày 26/6/2020, TAND huyện Mỹ Đức tuyên phạt 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong án phí năm 2020, được ra trại ngày 13/12/2021. Đã được xoá án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H từ ngày 31/01/2024 đến nay, Có mặt tại đầu cầu thành phần Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 2004, Vắng mặt.

Trú tại: thôn Ả, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11h10 phút ngày 31/01/2024, tại khu vực chợ V3, thuộc thôn V, xã H, huyện M, TP Hà Nội, Đội Cảnh sát kinh tế - Ma tuý, Công an huyện M phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an T kiểm tra đối với Nguyễn Thị H2 sinh năm 1981, trú tại thôn Ả, xã H, huyện M đang có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Tang vật thu giữ tại tay trái của H2 01 gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng, H2 khai là ma tuý Heroin. Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ của H2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh đen và số tiền 7.725.000 đồng và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong tang vật.

Hồi 11 giờ 35 phút cùng ngày, Đội Cảnh sát kinh tế - ma tuý, Công an huyện M và Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an T kiểm tra đối với Phạm Văn V sinh năm 1979, trú tại: thôn Ả, xã H, huyện M đang đứng trước cửa nhà ở của V, thu giữ tại túi quần bên trái Vĩ đang mặc có 06 gói nhỏ đều bọc giấy bên trong chứa chất bột màu trắng. V khai là ma túy H3 dùng để bán. Ngoài ra, thu giữ của V 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4, vỏ tối màu, bên trong gắn sim số 0984131472 và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong tang vật.

Cùng ngày 31/01/2024, Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị H2, thu giữ tại đầu giường trong phòng ngủ của H2 01 chiếc túi bóng màu đỏ bên trong có 01 cân điện tử màu xám.

Cùng ngày 31/01/2024, Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản mở kiểm tra điện thoại thu giữ của Nguyễn Thị H2 và Phạm Văn V1 và ngày 19/02/2024 ban hành Công văn số 174/CV-CSĐT về việc đề nghị cung cấp thông tin. Kết quả kiểm tra điện thoại và Công văn phúc đáp số 3889/CNVTQĐ-TTKT ngày 16/4/2024 của Tập đoàn C2 phản ánh:

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh đen thu giữ của Nguyễn Thị H2, bên trong có gắn 01 sim số thuê bao 0974785850, 01 sim số thuê bao 0329218295, chủ thuê bao là Nguyễn Thị H2.

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4, vỏ tối màu thu giữ của Phạm Văn V, bên trong gắn sim số thuê bao 0984131472, chủ thuê bao là Phạm văn V2.

Lịch sử cuộc gọi đi, đến thể hiện thời gian trong ngày 31/1/2024 có lưu giữ các cuộc gọi từ số thuê bao 0974785850 của bị can H2 đến số thuê bao 0984131472 của bị can V2 và số thuê bao 0374237207 của người liên lạc mua ma tuý của bị can H2.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H2 khai: Khoảng 7h sáng ngày 31/01/2024, H2 đang bán hàng tại chợ V3 thì có một người nam giới không rõ tên, địa chỉ gọi điện thoại từ số thuê bao 0374237207 cho H2 hỏi mua 2.000.000 đồng ma tuý loại Heroin, H2 đồng ý. Sau đó, H2 gọi điện thoại từ số 0974.785.xxx của mình đến số 0984131472 của Phạm Văn V hỏi mua của V1 2.000.000 đồng ma tuý loại Heroin, V đồng ý và hẹn gặp H2 ở bờ hồ gần khu vực nhà thờ thôn Ả để giao ma tuý. Sau đó, H2 đi đến chỗ hẹn gặp và đưa cho V 2.000.000 đồng, V nhận tiền và đưa cho H2 01 túi nilong bên trong có 01 gói giấy có chứa ma tuý loại Heroin. H2 cầm gói ma tuý đi về nhà định dùng cân để cân tách ma tuý nhưng cân hỏng nên H2 cầm gói ma tuý vừa mua được của V đến chỗ bán hàng tại chợ V3, chia số ma tuý trên thành hai gói (một gói to, một gói nhỏ). Đến khoảng 11h cùng ngày, người nam giới sử dụng số điện thoại 0374.237.xxx gọi lại cho H2, do bận bán hàng nên H2 không nghe máy, một lúc sau mới gọi lại từ số thuê bao 0974785850 của vào số này trao đổi và hẹn người thanh niên đến khu vực chợ V3 để giao dịch bán ma tuý. Khoảng 10 phút sau, có một người nam giới điều khiển xe mô tô đến chỗ H2 bán hàng, H2 đưa cho người này 01 gói ma tuý Heroin và nhận số tiền 2.000.000 đồng thì bị lực lượng công an đến kiểm tra thu giữ của H2 01 gói ma tuý, còn người thanh niên mua ma tuý điểu khiển xe máy bỏ chạy.

Phạm Văn V khai phù hợp lời khai của Nguyễn Thị H2 về việc giao dịch mua bán ma tuý giữa V và H2 trong ngày 31/01/2024. Về nguồn gốc số ma tuý V bán cho H2 và số ma tuý V bị công an thu giữ, V khai khoảng 22 giờ ngày 30/01/2024, V đi nhờ xe của người không quen biết từ xã H, huyện M đến khu vực Bệnh viện V4, huyện Ứ để gặp và hỏi mua của nam thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ một gói ma tuý Heroin với số tiền 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, V đi nhờ xe về xã H rồi đi bộ về nhà chia số ma túy mua được thành 09 gói nhỏ, V đã sử dụng hết 02 gói ma tuý nhỏ cho nhu cầu nghiện hút của bản thân, ngày 31/01/2024, V bán cho Nguyễn Thị H2 01 gói ma tuý nhỏ giá 2.000.000đ, 6 gói ma tuý nhỏ còn lại Vĩ đang để trong 01 túi nilon và cất trong túi bên trái chiếc quần Vĩ đang mặc và đứng ở cổng ngõ nhà mình với mục đích để bán thì bị công an kiểm tra thu giữ.

Ngày 31/01/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 204/QĐ-ĐCSKT-MT, trưng cầu phòng K - Công an T để xác định:

- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy thu giữ của Nguyễn Thị H2 là loại gì, khối lượng bao nhiêu?

- 01 cân điện tử màu xám có bám dính chất ma tuý không? Loại gì?

Và ra Quyết định trưng cầu giám định số 205/QĐ-ĐCSKT-MT, trưng cầu Phòng K Công an thành phố H để xác định: 01 túi nilon bên trong có 06 gói nhỏ bọc giấy, đều chứa chất bột màu trắng thu của Phạm Văn V có phải là ma túy không? Loại gì? Khối lượng?

Tại Kết luận giám định số 1382/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:

“... + Chất bột màu trắng bên trong 06 gói giấy (để trong 01 túi nilon) đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng: 1,023 gam”.

Tại Kết luận giám định số 1384/KL-KTHS cùng ngày 07/02/2024 của Phòng K - Công an T kết luận:

“...+ Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma tuý loại Heroin, khối lượng 0,251 gam.

+ 01 cân điện tử màu xám có dính ma tuý loại Heroine”.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh đen, bên trong gắn 02 sim số thuê bao 0974785850 và số thuê bao 0329218295 thu giữ của Nguyễn Thị H2. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4, vỏ tối màu, bên trong gắn 01 sim số thuê bao 0984131472 thu giữ của Phạm Văn V, các bị can khai sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý với nhau và với người liên quan. Đối với số thuê bao 0329218295, H2 khai không sử dụng trong việc liên lạc mua, bán ma tuý.

Tang vật chứng chuyển giao giải quyết theo hồ sơ vụ án được phản ánh trong bảng kê vật chứng kèm theo cáo trạng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị H2, Phạm Văn V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát, tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Tại cáo trạng số: 32/CT- VKS - HS ngày 23/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố: Bị cáo Nguyễn Thị H2 và Phạm Văn V về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt:

Nguyễn Thị H2 từ 30 năm đến 36 tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024.

Phạm Văn V từ 42 năm đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024.

Về hình phạt bổ sung: do hai bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hai bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu huỷ:

  • + 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên của đối tượng Nguyễn Thị H2, cán bộ niêm phong và giám định viên niêm phong bên trong có 01 cân điện tử màu xám.
  • + 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên của đối tượng Nguyễn Thị H2, cán bộ niêm phong và giám định viên niêm phong bên trong phong bì có 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng.
  • + 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên của đối tượng Phạm Văn V, cán bộ niêm phong và giám định viên niêm phong.
  • + 02 thẻ sim được gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh đen và 01 thẻ sim được gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước:

  • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh đen, thu giữ của Nguyễn Thị H2.
  • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4+, vỏ tối màu, thu giữ của Phạm Văn V.

- Đối với số tiền thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị H2 7.725.000đồng, trong đó có 2.000.000đồng là tiền bán ma tuý, cần tịch thu sung quỹ nhà nước, còn lại số tiền 5.725.000đồng không liên quan đến việc mua bán ma tuý và xác định là tiền của anh Nguyễn Văn N1 là con bị cáo đi làm gửi bị cáo giữ hộ nên cần tuyên trả lại cho anh Nguyễn Văn N1.

- Đối với số tiền 2.000.000đồng Phạm Văn Vĩ bán số ma tuý cho Nguyễn Thị H2 ngày 31.01.2024 thu lời chưa nộp lại, cần buộc bị cáo V phải nộp lại số tiền 2.000.000đồng trên.

Tại phiên tòa hai bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Hai bị cáo đã được cơ quan cảnh sát điều tra thông báo kết luận giám định về ma túy đã thu giữ của các bị cáo là hoàn toàn chính xác, các bị cáo không thắc mắc gì, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vê việc vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử xét thấy: Người này đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, đã có lời khai nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến xét xử vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2]. Về nội dung: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tạng, tang vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Ngày 30/01/2024, Phạm Văn V mua được 01 gói ma tuý Heroin về chia làm 9 gói nhỏ, V đã sử dụng cho bản thân hết 2 gói. Ngày 31/01/2024, sau khi được Nguyễn Thị H2 gọi điện thoại hỏi mua 2.000.000đồng ma tuý thì Phạm Văn V đã đồng ý và bán cho Nguyễn Thị H2 01 gói ma tuý Heroin với số tiền 2.000.000đồng. Còn lại 6 gói ma tuý loại Heroin, có khối lượng 1,023 gam, V đang cất giữ tại túi quần bên trái nhằm mục đích để bán thì bị kiểm tra bắt giữ cùng tang vật. Ngày 31/01/2024, tại khu vực đường làng thôn Ả, xã H, huyện M, Nguyễn Thị H2 có hành vi mua của Phạm Văn V 01 gói ma tuý Heroin giá 2.000.000đồng đem về chia làm hai gói nhỏ, sau đó H2 đem đến khu vực chợ V3 bán 01 gói ma tuý cho một người nam giới không rõ tên, địa chỉ với số tiền 2.000.000đồng, còn lại 01 gói ma tuý loại Heroin, có khối lượng 0,251gam, H2 đang cất giữ tại tay trái của mình với mục đích để bán thì bị kiểm tra bắt giữ cùng tang vật.

Theo Điều 251 Bộ luật hình sự: Tội mua bán trái phép chất ma túy, quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...”

Hành vi của Nguyễn Thị H2 và Phạm Văn V đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà N2. Biết tác hại của việc mua bán ma túy sẽ làm tổn hại đối với sức khỏe, là nguyên nhân gây lây lan bệnh tật và phát sinh nhiều tội phạm khác nhưng vì hàm lời các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần có mức hình phạt tù nghiêm tương xứng với mức độ vài trò và hành vi phạm tội của các bị cáo.

[4].Về vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hai bị cáo đều có nhân thân xấu và đã bị toà án xét xử về tội Mua bán bán trái phép chất ma tuý, tuy đã được xoá án tích nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân nay lại tiếp tục phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Về vai trò của bị cáo H2 và bị cáo V là đồng phạm trong việc mua và bán trái phép chất ma tuý. Trong đó, bị cáo H2 phạm tội với vai trò tích cực, chủ động gọi điện thoại hỏi mua ma tuý của bị cáo V để về chia nhỏ ra bán kiếm lời. Bị cáo V là người trực tiếp bán ma tuý cho bị cáo H2 và ngoài ra còn tàng trữ 1,023 gam ma tuý Heroin nhằm mục đích tiếp tục bán kiếm lời. Vì vậy, bị cáo V phải chịu trách nhiệm hình sự với số lượng ma tuý bị cáo đã bán cho bị cáo H2 và số ma tuý thu giữ của bị cáo nhằm mục đích bán kiếm lời nên mức hình phạt của bị cáo V cần phải cao hơn bị cáo H2.

[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hai bị cáo đều khai báo thành khẩn hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho hai bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Hai bị cáo đều không có thu nhập và phải chấp hành hình phạt tù nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho hai bị cáo.

[7]. Về xử lý vật chứng:

  • + 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên của đối tượng Nguyễn Thị H2, cán bộ niêm phong và giám định viên niêm phong bên trong có 01 cân điện tử màu xám, cần tịch thu tiêu huỷ.
  • + 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên của đối tượng Nguyễn Thị H2, cán bộ niêm phong và giám định viên niêm phong bên trong phong bì có 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng, cần tịch thu tiêu huỷ.
  • + 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên của đối tượng Phạm Văn V, cán bộ niêm phong và giám định viên niêm phong, cần tịch thu tiêu huỷ.
  • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh đen, bên trong gắn 02 sim số thuê bao 0974785850 và số thuê bao 0329218295 thu giữ của Nguyễn Thị H2, sử dụng liên lạc mua ma tuý, cần tịch thu sung quỹ nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh đen, còn lại 02 thẻ sim trong điện thoại cần tịch thu tiêu huỷ.
  • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4, vỏ tối màu, bên trong gắn 01 sim số thuê bao 0984131472 thu giữ của Phạm Văn V sử dụng liên lạc mua ma tuý để sử dụng, cần tịch thu sung quỹ nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4, còn lại 01 thẻ sim trong điện thoại cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với số tiền thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị H2 7.725.000đồng, trong đó có 2.000.000đồng là tiền bán ma tuý, cần tịch thu sung quỹ nhà nước, còn lại số tiền 5.725.000đồng không liên quan đến việc mua bán ma tuý và xác định là tiền của anh Nguyễn Văn N1 là con bị cáo đi làm gửi cho bị cáo giữ hộ nên cần tuyên trả lại cho anh Nguyễn Văn N1.

Đối với số tiền 2.000.000đồng Phạm Văn Vĩ bán ma tuý cho Nguyễn Thị H2 ngày 31.01.2024 thu lời chưa nộp lại, cần buộc bị cáo V phải nộp lại số tiền 2.000.000đồng trên để sung quỹ Nhà Nước.

Đối với sim có số thuê bao 0329218295 cài trong máy điện thoại của Nguyễn Thị H2 bị thu giữ, qua đề nghị cung cấp thông tin xác định chủ đăng ký thuê bao số này là Trần Thị Thanh T sinh ngày 07/10/1988, địa chỉ: H, H, Hà Tĩnh. H2 khai không sử dụng sim số thuê bao này trong việc liên lạc mua, bán ma tuý.

Về nguồn gốc số ma tuý: Người bán ma tuý cho Phạm Văn V trong ngày 30/01/2024, bị can V khai không rõ tên, tuổi địa chỉ, quá trình điều tra không có cơ sở xác định được danh tính của người này, nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý là phù hợp.

Đối với người nam giới mua ma tuý của Nguyễn Thị H2 trong ngày 31/01/2024, Cơ quan điều tra đã xác minh số điện thoại 0374.237.xxx của người này. Kết quả xác định chủ thuê bao là Nguyễn Thị N3 sinh năm 1956, trú tại: thôn Đ, xã H, huyện Ứ. Bà N3 khai có đăng ký sử dụng số thuê bao trên nhưng đã lâu không sử dụng và không có mối quan hệ với người họ tên Nguyễn Thị H2. H2 khai không rõ tên, tuổi địa chỉ của người nam giới dùng số điện thoại 0374.237.xxx mua ma tuý của H2, nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý là phù hợp.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.

[9]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thị H2Phạm Văn V phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về điều khoản áp dụng và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt:

Nguyễn Thị H2 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 31/01/2024.

Phạm Văn V 39 (Ba mươi chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 31/01/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu huỷ:

  • + 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên của đối tượng Nguyễn Thị H2, cán bộ niêm phong và giám định viên niêm phong bên trong có 01 cân điện tử màu xám đã niêm phong.
  • + 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên của đối tượng Nguyễn Thị H2, cán bộ niêm phong và giám định viên niêm phong bên trong phong bì có 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng đã niêm phong.
  • + 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên của đối tượng Phạm Văn V, cán bộ niêm phong và giám định viên đã niêm phong.
  • + 03 thẻ sim điện thoại.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước:

  • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh đen.
  • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.000.000đồng thu giữ của bị cáo H2.

- Trả lại anh Nguyễn Văn N1 số tiền 5.725.000đồng.

- Buộc bị cáo Phạm Văn V phải nộp lại số tiền 2.000.000đồng thu lời bất chính để sung quỹ nhà nước.

Những tang vật trên đang do Chi cục thi hành án Dân sự huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10 /7/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức và ủy nhiệm chi ngày 04/7/2024 vào tài khoản 3949.0.1052758.00000 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Mỹ Đức, Hà Nội tại Kho bạc nhà nước huyện M.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo H2 và bị cáo V mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị H2 và Phạm Văn V có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án đối với phần quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận :

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - CA huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger