|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST Ngày : 30-5-2024 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chau Dau.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Châu Thanh Nguyên.
- Bà Chế Thị Hồng Cẩm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Kim Liệu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên toà:
Ông Chau Pho Ly – Kiểm sát viên.
- Người phiên dịch tiếng khmer: Ông Kim S, sinh năm 1964; địa chỉ: Ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 69/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 và Quyết đinh hoãn phiên tòa số: 34/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 05 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Néang N, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: Tổ C, ấp T, xã L, huyện T, tỉnh An Giang, có đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Chau U, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: Tổ A, ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/02/2024 và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Néang N trình bày:
Về hôn nhân: Giữa bà và ông Chau U qua thời gian tìm hiểu bà và ông U tự nguyện đi đến xác lập quan hệ hôn nhân và có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh An Giang vào năm 2022, theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc và đầm ấm. Tuy nhiên, từ năm 2022, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẩn bất đồng quan điểm, ông U thường xuyên nhậu nhẹt và hay vô cớ kiếm chuyện, thường xuyên bạo lực với bà và đánh đập bà dẫn đến sảy thai. Từ đó, bà và U đã ly thân hơn 03 tháng nay. Nay bà nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhận không đạt được nên bà yêu cầu xin được ly hôn đối với ông Chau U.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông Chau U: Vắng mặt.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 35, Điều 68 và Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa của mình tại Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt là chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 72 của BộToà án luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dụng vụ án:
Về hôn nhân: Bà N và ông U tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn đúng quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó bà N yêu cầu ly hôn là có căn cứ.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.
Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp: Bà N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Chau U, tranh chấp giữa các đương sự về ly hôn và bị đơn có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà N có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt; bị đơn ông Chau U đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với họ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên bà Néang N:
Bà N và ông U tự nguyện đi đến xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 67, ngày 05/9/2022 là phù hợp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa bà N và ông U là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Theo lời trình bày của bà N nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà N và ông U thường bất đồng quan điểm, ông U thường xuyên nhậu nhẹt và hay vô cớ kiếm chuyện, thường xuyên sử dụng bạo lực với bà N và dẫn đến làm cho bà N sảy thai. Từ đó, bà N và ông U đã ly thân hơn 03 tháng nay. Nay bà N nhận thấy bà và ông U không thể chung sống với nhau được nên bà yêu cầu ly hông với ông Chau U.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông U, nhưng ông U không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà N. Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành hoà giải nhằm tạo điều kiện cho đôi bên hàn gắn tình cảm để đoàn tụ, tuy nhiên ông U vắng mặt không có lý do và Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông U. Tuy nhiên địa phương cũng không nắm rõ tình trạng hôn nhân của bà N, ông U.
Hội đồng xét xử xét thấy, theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...”. Tuy nhiên, qua lời trình bày của bà N cho thấy ông U đã không tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau... Như vậy, ông Chau U đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ vợ chồng. Hơn nữa, ông U còn có hành vi bạo lực đối với bà N dẫn đến bà N sảy thai. Theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chông làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Từ đó, Hội đồng xét có đủ cơ sở xem xét yêu cầu ly hôn của bà Néang N đối với ông Chau U là có căn cứ nên chấp nhận.
[2.2] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí: Bà Néang N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Néang N đối với ông Chau U.
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Néang N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0012283 ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Chau Dau |
Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận cho ly hôn
